.jpg)
Giao dịch chậm gây áp lực lên thị trường thép dài Châu Á
Thị trường thép dài nội địa Trung Quốc suy giảm do hoạt động giao dịch ảm đạm trước thềm cuối tuần, trong khi thị trường xuất khẩu đường biển vẫn ổn định do thiếu vắng các giao dịch đáng kể.
Thép thanh (Rebar)
Tại Thượng Hải, giá thép thanh xuất xưởng ngày 30/10 giảm 20 nhân dân tệ/tấn (tương đương 3,00 USD/tấn), xuống còn 3.060 nhân dân tệ/tấn. Cùng lúc đó, giá thép thanh kỳ hạn tháng 1 giảm 0,98% (tương đương 30 nhân dân tệ/tấn) so với mức giá giao dịch ngày hôm trước, xuống còn 3.030 nhân dân tệ/tấn.
Hoạt động giao dịch trên thị trường thực tế chậm lại so với ngày Thứ năm, mặc dù các bên bán đã hạ giá để kích cầu. Những người tham gia thị trường bày tỏ lo ngại về nhu cầu xây dựng sụt giảm khi mùa đông đang đến gần, trong khi sản lượng thép thanh tại các nhà máy lại tăng hơn 60.000 tấn trong tuần.
Theo một số nguồn tin, tâm lý thị trường thép cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đà giảm của thị trường chứng khoán Trung Quốc, với chỉ số tổng hợp chứng khoán Thượng Hải giảm 1,44% trong ngày.
Mức giá thép thanh xuất khẩu (FOB) từ Trung Quốc theo đánh giá vẫn giữ nguyên ở mức 474 USD/tấn (tính theo trọng lượng lý thuyết).
Các công ty thương mại cho biết, một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc vẫn duy trì giá chào xuất khẩu thép thanh loại B500B ở mức 474 USD/tấn vào ngày 30/10. Các nhà máy thép giữ giá xuất khẩu ở mức cao do đồng nhân dân tệ vẫn duy trì sức mạnh, bất chấp giá thép tại thị trường nội địa Trung Quốc sụt giảm.
Theo đánh giá hàng tuần, giá thép thanh tại Đông Nam Á giảm 2 USD/tấn, xuống còn 501 USD/tấn (giá CFR Singapore, tính theo trọng lượng lý thuyết).
Các nhà máy Trung Quốc đã điều chỉnh giá chào thép thanh sang Singapore từ mức 510–515 USD/tấn (CFR, trọng lượng lý thuyết) vào tuần trước đó xuống còn 505–510 USD/tấn (CFR, trọng lượng lý thuyết) trong tuần cuối tháng 10. Tuy nhiên, mức giá thấp hơn vẫn không thu hút được sự quan tâm đặt hàng từ các bên mua tại Singapore, vốn đang kỳ vọng mức giá dưới 500 USD/tấn (CFR, trọng lượng lý thuyết).
Tại thị trường Hồng Kông, giá chào bán từ các thương nhân đã giảm nhẹ từ mức 505 USD/tấn (giá CFR, tính theo trọng lượng thực tế) vào tuần trước đó xuống còn 502 USD/tấn (giá CFR) trong tuần qua. Theo các thành viên tham gia thị trường, trong bối cảnh triển vọng thị trường ảm đạm, người mua khó có khả năng chấp nhận các mức giá chào trên 500 USD/tấn (giá CFR Hồng Kông, tính theo trọng lượng thực tế).
Cuộn dây và phôi thanh
Mức đánh giá đối với thép cuộn dây xuất khẩu từ Trung Quốc (giá FOB) vẫn giữ nguyên ở mức 493 USD/tấn.
Một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu đối với thép cuộn SAE1008 thêm 2 USD/tấn, xuống còn 502 USD/tấn (giá FOB), trong khi giá chào cho thép cuộn Q195 vẫn giữ nguyên ở mức 488 USD/tấn (giá FOB).
Một nhà máy khác ở miền Bắc Trung Quốc vẫn duy trì mức giá chào cao hơn, từ 515–520 USD/tấn (giá FOB) cho thép cuộn SAE1008, bất chấp hoạt động giao dịch đường biển ở mức giá này đang rất trầm lắng. Người mua đang tìm kiếm mức giá dưới 490 USD/tấn (giá FOB), nhưng đây là mức giá mà hầu hết các nhà máy tại Trung Quốc không thể chấp nhận được khi đã tính đến thuế giá trị gia tăng. Một nhà máy tại Indonesia giữ giá chào ổn định ở mức 500 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 1, nhưng trong hai tuần qua, mức giá này nhận được rất ít sự quan tâm từ người mua do thời gian giao hàng kéo dài.
Giá phôi thép tại Đường Sơn (giá xuất xưởng) đã giảm 10 nhân dân tệ/tấn, xuống còn 2.890 nhân dân tệ/tấn. Hôm Thứ sáu, một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc vẫn giữ nguyên giá chào xuất khẩu ở mức 457 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 12, trong khi một nhà máy tại Indonesia cũng duy trì giá chào ổn định ở mức 470 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 1.
Giá thép dẹt Châu Á ổn định
Giá thép cuộn và phôi tấm trong khu vực vẫn giữ ổn định, trong khi khối lượng giao dịch thép cuộn ghi nhận sự gia tăng.
Thép cuộn
Giá xuất khẩu thép cuộn cán nóng (HRC) của Trung Quốc duy trì ổn định ở mức 482 USD/tấn (giá FOB Trung Quốc), với các giao dịch thực tế cũng được thực hiện ở mức giá này.
Theo các thành viên thị trường tại Trung Quốc, một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc đã bán khoảng 50.000 tấn HRC mác Q235 với giá tương đương khoảng 482 USD/tấn (FOB Trung Quốc) trong tuần qua, dù điểm đến cụ thể của lô hàng vẫn chưa rõ ràng.
Một nhà máy khác cũng đã bán HRC mác Q235 với giá khoảng 480 USD/tấn (FOB Trung Quốc) trong tuần, tuy nhiên các chi tiết cụ thể hơn vẫn chưa được xác nhận. Nhà máy này đã bán tổng cộng khoảng 30.000 tấn HRC cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu trong tuần qua.
Các nguồn tin cho biết thêm, nhiều nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc sẵn sàng nhận đơn hàng HRC mác Q235 với mức giá từ 480–482 USD/tấn (FOB Trung Quốc). Một quản lý nhà máy tại Trung Quốc chia sẻ rằng, dù một số khách hàng ở Nam Mỹ đã chấp nhận mức giá 505 USD/tấn (FOB Trung Quốc) đối với HRC mác SS400, nhưng phần lớn người mua trên thị trường quốc tế vẫn tỏ ra ngần ngại với mức giá này.
Tại khu vực ASEAN, giá HRC giữ nguyên ở mức 529 USD/tấn (giá CFR Việt Nam). Các khách hàng tại Việt Nam hiện đang chờ đợi thông báo về giá bán hàng tháng mới từ nhà sản xuất trong nước là Hòa Phát, dự kiến sẽ được công bố vào ngày 2/11, với mức giảm 100-150 đồng/kg. Do đó, họ không vội vàng đặt hàng mà đưa ra mức giá chào mua là 525 USD/tấn (CFR Việt Nam) đối với HRC mác SAE1006.
Theo các thành viên thị trường tại Việt Nam, mức giá này thấp hơn đáng kể so với mức giá chào bán từ các nhà cung cấp tại Nhật Bản và Ấn Độ (khoảng 565–570 USD/tấn, giá CFR Việt Nam) cho cùng loại HRC mác SAE1006. Giá thép cuộn cán nóng (HRC) xuất xưởng Thượng Hải giảm 10 nhân dân tệ/tấn (1,50 USD/tấn) xuống còn 3.220 nhân dân tệ/tấn vào ngày 30/10.
Các bên bán đã hạ giá trong bối cảnh giao dịch ảm đạm. Theo đánh giá, giá HRC xuất xưởng tại Thượng Hải đã giảm 20 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Những người tham gia thị trường nhìn chung có tâm lý thận trọng và tiêu cực về triển vọng thị trường trong tháng 11, do giá nguyên liệu thô yếu và nhu cầu từ các ngành hạ nguồn còn hạn chế.
Trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải, hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 đã giảm 0,69% (tương đương 22 nhân dân tệ/tấn) so với giá thanh toán của phiên giao dịch trước đó, xuống còn 3.170 nhân dân tệ/tấn vào ngày 30/10.
Phôi tấm
Giá phôi tấm xuất khẩu (FOB) tại châu Á giữ ổn định ở mức 478 USD/tấn.
Một nhà máy tại Indonesia vẫn duy trì mức giá chào xuất khẩu phôi tấm (loại dùng để cán thép cuộn) ở mức 478 USD/tấn (FOB) trong tuần cho các lô hàng giao tháng 1. Theo các công ty thương mại, giá chào xuất khẩu từ Trung Quốc cũng ở mức tương đương. Nhu cầu tại khu vực Châu Á vẫn trầm lắng với một số bên mua đưa ra mức giá mục tiêu 480 USD/tấn (CFR Đông Nam Á, tương đương khoảng 465 USD/tấn (FOB Trung Quốc), mức giá này quá thấp để các bên bán chấp nhận. Số lượng yêu cầu từ các bên mua tại EU có tăng lên, nhưng chỉ một vài nhà máy thép lớn có khả năng cung cấp dữ liệu liên quan đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), với mức giá chào cho phôi tấm cao hơn, dao động từ 490–495 USD/tấn (FOB Trung Quốc). Theo những người tham gia thị trường, việc đồng nhân dân tệ mạnh lên so với đồng đô la Mỹ, cùng với xu hướng ưu tiên bán thép cuộn cán nóng (HRC) thay vì phôi tấm của các nhà máy, đã góp phần hỗ trợ giá xuất khẩu phôi tấm.
Một nguồn tin từ Việt Nam cho biết, vào giữa tháng 10, một nhà máy thép tại Việt Nam đã chào bán phôi tấm (loại dùng để cán thép cuộn) ở mức 520 USD/tấn (FOB) nhưng tuần qua không ghi nhận thêm các chào giá mới do lượng hàng còn lại rất hạn chế. Một nhà máy khác tại Việt Nam cũng chào bán cùng loại phôi tấm này với giá 520–530 USD/tấn (FOB) cho các lô hàng giao trong tháng 11–12 và hiện các cuộc đàm phán với các bên mua tại EU vẫn đang diễn ra.
Giá chào đối với phôi tấm (loại dùng để cán thép tấm dày) có xuất xứ từ Trung Quốc dao động trong khoảng 510–520 USD/tấn (FOB) cho các lô hàng giao tháng 12/2026–1/2027, mức giá này cũng không thay đổi so với tuần trước đó. Dư địa cho việc đàm phán giá là rất hạn chế, do nhu cầu thép tấm tăng mạnh tại Trung Quốc đã giữ giá thép tấm (cả tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu) ở mức 530–570 USD/tấn (giá FOB) trong tháng 11. Đồng thời, các nhà máy Trung Quốc cũng thường chỉ dành ra khối lượng hạn chế cho việc xuất khẩu phôi tấm.
Nhu cầu HRC Ấn Độ chững lại trước dịp lễ Diwali
Nội địa
Tại Mumbai, giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa Ấn Độ đã giảm trong tuần qua do nhu cầu suy yếu trước thềm kỳ nghỉ lễ Diwali, buộc các bên bán phải hạ giá chào để thúc đẩy giao dịch.
Theo đánh giá hàng tuần, giá HRC nội địa Ấn Độ (đối với loại có độ dày từ 2,5–4,00 mm) vào thứ Sáu đạt 62.750 rupee/tấn (tương đương 661 USD/tấn) tại Mumbai (chưa bao gồm thuế hàng hóa và dịch vụ GST), giảm 500 rupee/tấn so với tuần trước đó.
Các thương nhân, nhà phân phối và đại lý đã điều chỉnh giảm giá chào trong bối cảnh nhu cầu suy giảm và thanh khoản thắt chặt trước kỳ nghỉ lễ Diwali (diễn ra từ ngày 6 đến 11/11). Hoạt động chốt lời cũng gây áp lực lên giá cả, khi các nhà cung cấp muốn giải phóng hàng tồn kho trước khi các hoạt động mua sắm chậm lại hơn nữa vào đầu tháng 11.
Các nhà máy thép lớn dự kiến sẽ thực hiện một đợt tăng giá mới vào tuần đầu tháng 11, sau đó, các nhà phân phối cũng có khả năng sẽ nâng giá chào theo chi phí thu mua đầu vào tăng lên. Hiện tại, các nhà phân phối và thương nhân tại Mumbai đang bán ở mức giá bằng hoặc thấp hơn giá giao hàng từ nhà máy, do các đợt tăng giá gần đây từ phía nhà máy đã làm thu hẹp biên lợi nhuận của họ.
Triển vọng thị trường từ nay đến giữa tháng 11 vẫn khá ảm đạm, khi người tiêu dùng được dự báo sẽ hạn chế các đơn hàng mới trong kỳ nghỉ lễ, thời điểm mà các nhà máy sản xuất tạm ngừng hoạt động và tình trạng thiếu hụt lao động gây ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất. Trong khi đó, hoạt động sản xuất thép vẫn tiếp diễn bất chấp sự chậm lại trong kỳ nghỉ, điều này có thể dẫn đến tình trạng tích tụ hàng tồn kho trong nước trong những tuần tới.
Các thành viên tham gia thị trường cho rằng dư địa để giá tiếp tục tăng sau dịp lễ Diwali là không nhiều. Mặc dù nhu cầu từ các dự án xây dựng và đường ống có thể cải thiện sau giữa tháng 11, nhưng vẫn chưa rõ liệu điều này có tạo ra đà tăng bền vững cho giá thép hay không. Theo các bên tham gia thị trường, người tiêu dùng thép hiện đang gặp khó khăn trong việc hấp thụ chi phí thu mua ở mức cao, dẫn đến tình trạng trì hoãn tại một số dự án.
Tại thị trường nội địa Ấn Độ, giá thép cuộn cán nguội (CRC) giảm 550 Rupee/tấn so với tuần trước, xuống còn 72.250 Rupee/tấn trong khi giá thép cuộn mạ kẽm (loại 0,8mm, 80gsm) giảm 750 Rupee/tấn, xuống còn 79.500 Rupee/tấn. Các mức giá này là giá xuất xưởng Mumbai và chưa bao gồm thuế hàng hóa và dịch vụ (GST).
Nguồn cung CRC vẫn ở mức khan hiếm, tuy nhiên nhu cầu từ ngành sản xuất ô tô được ghi nhận đã chững lại. Các nhà sản xuất ô tô đang dần kết thúc giai đoạn sản xuất phục vụ mùa lễ hội và hạn chế đặt mua thêm nguyên liệu, trong bối cảnh doanh số bán xe dự kiến sẽ chậm lại vào tháng 12.
Xuất khẩu
Hoạt động giao dịch thép cuộn cán nóng với Châu Âu vẫn đình trệ do người mua tiếp tục hạn chế đặt hàng mới vì các rào cản về hạn ngạch nhập khẩu.
HRC từ Ấn Độ xuất sang châu Âu (theo điều kiện cfr) giữ nguyên ở mức 730 USD/tấn trong tuần thứ hai liên tiếp.
Các chào giá HRC từ Ấn Độ sang EU vẫn duy trì ở mức 735–740 USD/tấn (cfr EU), tương đương khoảng 650–660 USD/tấn (theo điều kiện fob). Tuy nhiên, không có giao dịch hay giá chào mua nào được ghi nhận trong tuần. Do hạn ngạch xuất khẩu của Ấn Độ cho giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 dự kiến sẽ sớm cạn kiệt, người mua hiện đang chờ đợi thông tin rõ ràng hơn về hạn ngạch cho giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6.
Một thương nhân cho biết, các nhà máy thép có thể đang thúc đẩy chốt đơn hàng cho lô hàng tháng 12, nhưng người mua có khả năng sẽ chờ đợi đến ngày 1/1 – thời điểm hạn ngạch được thiết lập lại – mới lên kế hoạch mua hàng.
Giá HRC xuất khẩu từ Ấn Độ (theo điều kiện fob) cũng ổn định ở mức 640 USD/tấn trong tuần qua, trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu trầm lắng.
Hiện không có chào giá HRC nào từ Ấn Độ sang khu vực Trung Đông. Trên thị trường xuất hiện thông tin về các cuộc đàm phán với mức giá khoảng 580 USD/tấn (fob Mumbai) cho một lô hàng lớn xuất sang Bahrain, tuy nhiên, thông tin này chưa được xác nhận. Hơn nữa, mức giá này được cho là quá thấp, không khả thi đối với các nhà sản xuất Ấn Độ, nhất là khi lợi nhuận từ thị trường nội địa vẫn đang ở mức cao.
Theo các thành viên thị trường, giá xuất khẩu từ Ấn Độ cần đạt trên 600 USD/tấn (fob) mới có thể thu hút sự quan tâm của các nhà máy thép Ấn Độ đối với thị trường Trung Đông. Tại một sự kiện lớn của ngành diễn ra ở Dubai, các bên tham gia cho biết Ấn Độ đã trở thành nguồn cung thép cuộn cán nóng (HRC) được các nhà nhập khẩu tại khu vực Vịnh Trung Đông ưu tiên lựa chọn trong bối cảnh xung đột hiện nay, nhờ thời gian giao hàng ngắn hơn so với các nhà cung cấp khác từ Châu Á. Tuy nhiên, giá cả và khả năng cung ứng vẫn là những rào cản đáng kể.
Trong bối cảnh hoạt động thương mại tại các thị trường khu vực Vịnh Trung Đông vốn đã bị gián đoạn do tình trạng tắc nghẽn tại cảng, chậm trễ trong việc cập cảng và các vấn đề logistics khác, thời gian giao hàng ngắn hơn từ Ấn Độ đã trở nên ngày càng hấp dẫn đối với người mua. Dẫu vậy, nhu cầu tiêu thụ nội địa mạnh mẽ tại Ấn Độ gần đây đã làm thu hẹp nguồn cung dành cho xuất khẩu sang Trung Đông. Bên cạnh đó, việc giá HRC trong nước tại Ấn Độ tăng vọt lên mức cao nhất trong nhiều năm qua cũng khiến các nhà cung cấp nước này rút lui khỏi thị trường Trung Đông để ưu tiên cho thị trường nội địa.
Thị trường thép dẹt tại Thổ Nhĩ Kỳ trầm lắng cuối tháng 10
Thị trường thép dẹt tại Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra trầm lắng cuối tháng qua do kỳ nghỉ Quốc Khánh (29/10) khiến tuần làm việc ngắn hơn, cùng với các hoạt động cuối tháng khi các bên bán chủ yếu tập trung hoàn tất các lô hàng.
Mức giá thép cuộn cán nóng nội địa tại Thổ Nhĩ Kỳ theo đánh giá hàng tuần đã giảm 5 USD, xuống còn 620 USD/tấn (giá xuất xưởng).
Các nhà máy vẫn giữ giá niêm yết đối với HRC trên thị trường nội địa ở mức khoảng 620–640 USD/tấn (giá xuất xưởng), nhưng những người tham gia thị trường nhìn chung đều cho rằng tuần mới này có nhiều dư địa hơn để giảm giá. Một thương nhân cho biết đã có những khoản chiết khấu từ 10–15 USD/tấn, đặc biệt là đối với các đơn hàng có khối lượng lớn.
Các bên tham gia thị trường cũng đang theo dõi sát sao giá phế liệu như một chỉ báo cho xu hướng của thị trường HRC. Các nhà cung cấp phế liệu tiếp tục thăm dò các mức giá chào bán cao hơn, được hỗ trợ bởi nhu cầu mạnh mẽ từ Mỹ, chi phí vận tải tăng cao và nguồn cung hạn chế đối với một số loại nguyên liệu kim loại. Tuy nhiên, khả năng duy trì mức giá phế liệu cao vẫn còn là dấu hỏi, trong bối cảnh nhu cầu thép dài tại Thổ Nhĩ Kỳ yếu, khối lượng hàng nhập về trong tháng 11 dự kiến ở mức cao và nhu cầu mua hàng không mấy cấp thiết.
Thị trường xuất khẩu HRC của Thổ Nhĩ Kỳ cũng trầm lắng, không có giao dịch nào được ghi nhận. Mức giá xuất khẩu đã giảm 2,50 USD/tấn, xuống còn 612,50 USD/tấn (giá FOB Thổ Nhĩ Kỳ). Một nguồn tin cho biết các cuộc đàm phán với người mua tại Châu Âu phần lớn đã bị tạm dừng, do hạn ngạch tự vệ (safeguard quota) áp dụng cho hàng hóa từ Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ cạn kiệt ngay khi bước sang ngày 1/1. Nguồn tin này nói thêm rằng các khách hàng Châu Âu hiện chưa sẵn sàng đàm phán cho các lô hàng dự kiến thông quan vào ngày 1/4.
Hầu hết các mức giá chào xuất khẩu HRC được ghi nhận ở mức khoảng 630 USD/tấn (giá FOB), nhưng nhu cầu hạn chế từ các thị trường Châu Âu đã kìm hãm sức mua. Hơn nữa, việc chuyển hướng sang các thị trường thay thế như Trung Đông và vùng Balkan đồng nghĩa với việc các mức giá khả thi cho các giao dịch thấp hơn. Một người tham gia thị trường cho rằng mức giá khả thi cho xuất khẩu HRC nằm trong khoảng 610–615 USD/tấn (giá FOB).
HRC từ Trung Quốc vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm mua hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Khoảng 80.000 tấn thép cuộn cán nóng (HRC) từ Trung Quốc được cho là đã được bán sang Thổ Nhĩ Kỳ trong hai tuần đầu tháng 10.
Mức gđánh giá đối với HRC nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm 2,50 USD/tấn, xuống còn 547,50 USD/tấn (giá CFR). Một nhà máy Trung Quốc chào bán thép mác Q195 sang Thổ Nhĩ Kỳ với giá 543 USD/tấn (giá CFR), giảm so với mức 547 USD/tấn trước đó. Một nhà cung cấp khác cũng được ghi nhận chào bán loại thép tương đương với giá 545 USD/tấn (giá CFR).
Đối với các sản phẩm thép dẹt, yếu tố hạn ngạch theo mùa tiếp tục gây áp lực lên nhu cầu mua hàng tại Châu Âu. Trong khi đó, kỳ nghỉ lễ và thời điểm cuối tháng tại Thổ Nhĩ Kỳ đã hạn chế các hoạt động trên thị trường nội địa nước này.
Mức đánh giá đối với thép cuộn cán nguội (CRC) không thay đổi, duy trì ở mức 740 USD/tấn (giá xuất xưởng) tại thị trường nội địa và 700 USD/tấn (giá FOB) đối với hàng xuất khẩu. Một đơn vị chào bán CRC xuất khẩu với giá 720 USD/tấn (giá FOB), nhưng chưa ghi nhận giao dịch nào ở mức giá này.
Đối với thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG), đánh giá cũng giữ nguyên ở mức 845 USD/tấn (giá xuất xưởng) tại thị trường nội địa và 800 USD/tấn (giá FOB) đối với hàng xuất khẩu.
Tại khu vực Biển Đen, đánh giá cho HRC và CRC vẫn ổn định, lần lượt ở mức 525 USD/tấn (giá FOB) và 605 USD/tấn (giá FOB). Các nhà máy Nga không đưa ra chào bán sang Thổ Nhĩ Kỳ trong tuần qua. Tuần trước đó, mức giá chào bán từ phía Nga đạt khoảng 560 USD/tấn (giá CFR).
Giá thép thanh Thổ Nhĩ Kỳ tăng, hỗ trợ từ giá phế cao và tồn kho thấp
Giá thép thanh tại Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng trong ngày Thứ sáu khi thị trường hoạt động trở lại sau kỳ nghỉ lễ. Các nhà máy thép đã đảo ngược xu hướng của vài tuần trước bằng cách nâng giá chào bán, phản ứng trước đà tăng của giá thép phế liệu. Trong khi đó, các thương nhân trong nước vốn duy trì mức tồn kho ở mức thấp nhất có thể đã bắt đầu thực hiện một số giao dịch mua vào.
Theo đánh giá hàng ngày, giá thép thanh tại thị trường nội địa Thổ Nhĩ Kỳ đã phục hồi 3 USD/tấn, đạt 601 USD/tấn (giá xuất xưởng, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng - VAT). Nếu tính theo đồng lira, mức giá này tăng 230 lira/tấn, lên 35.995 lira/tấn (giá xuất xưởng, đã bao gồm VAT).
Mặc dù xu hướng chung của thị trường vẫn còn khá mơ hồ với nguồn cung phế liệu khan hiếm và nhu cầu thép thanh yếu tạo ra những tác động trái chiều nhưng các bên mua tại Thổ Nhĩ Kỳ buộc phải chấp nhận mức giá cao hơn do lượng tồn kho đang ở mức thấp.
Ba nhà máy tại khu vực Marmara đã điều chỉnh giá tăng trở lại mức 612–615 USD/tấn (giá xuất xưởng), sau khi duy trì ở mức 610 USD/tấn vào đầu tuần. Tại Izmir, giá chào bán tăng 2–3 USD/tấn, lên mức 598–600 USD/tấn (giá xuất xưởng); trong khi tại Iskenderun, giá dao động từ 593–605 USD/tấn (giá xuất xưởng), so với mức 591–601 USD/tấn hồi đầu tuần.
Các giao dịch nhập khẩu mới đã đẩy giá thép phế liệu (loại HMS 1/2 80:20) nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ theo đánh giá hàng ngày tăng 6 USD/tấn, lên mức 402 USD/tấn (giá CFR).
Trên thị trường xuất khẩu, một nhà máy lớn tại Izmir đã tăng giá chào bán thêm 10 USD/tấn, lên mức 610 USD/tấn (giá FOB). Tuy nhiên, các bên mua không mấy mặn mà với việc chốt đơn hàng mới ở mức giá cao hơn này. Theo một số thương nhân, trước đó vào đầu tuần, các nhà máy thậm chí sẵn sàng bán với giá dưới 600 USD/tấn (giá FOB).
Các nhà máy HRC EU tập trung chọn lọc đơn hàng cho Quý đầu năm mới
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại Châu Âu vẫn dao động trong biên độ nhất định vào ngày Thứ sáu, với các mức hỗ trợ mới ở ngưỡng 740–750 Euro/tấn (giá xuất xưởng). Các nhà máy hiện đang hướng tới mức giá cao hơn nhằm phản ánh chi phí đầu vào gia tăng và tình trạng thị trường ngày càng thắt chặt.
Các nhà sản xuất không vội vàng bán ra khối lượng phân bổ cho quý đầu tiên, thay vào đó, họ chọn cách sàng lọc và chỉ nhận những đơn hàng phù hợp nhất vào thời điểm hiện tại.
Chỉ số giá HRC hàng ngày tại khu vực Tây Bắc Âu nhích 1 Euro/tấn, đạt 754.50 Euro/tấn (giá xuất xưởng), trong khi chỉ số giá HRC tại Ý giảm 1 Euro/tấn, xuống còn 742.5 Euro/tấn xuất xưởng.
Tại khu vực phía Bắc, một nhà sản xuất tích hợp cho biết đã thực hiện các giao dịch ở mức 800 Euro/tấn cho sản lượng quý đầu tiên, tương đương 780 Euro/tấn xuất xưởng. Nguồn tin này cho biết: "Chi phí vận chuyển đã được điều chỉnh để phản ánh giá dầu diesel và các chi phí gia tăng khác". Một nhà sản xuất tích hợp tại Đức gần đây cũng thông báo gặp khó khăn trong việc tăng công suất tại một trong các lò cao vừa trải qua quá trình cải tạo.
Khi được hỏi về các giao dịch nêu trên, những người tham gia thị trường cho rằng đây là mức giá tương đối cao và đắt đỏ. Đầu tuần này, một trung tâm dịch vụ thép đã chốt khối lượng cho sản lượng tháng 1 và tháng 2 với mức giá 760–770 Euro/tấn (giá giao hàng). Một trung tâm dịch vụ khác cho biết mức chào giá Thứ sáu nằm trong khoảng 765–780 Euro/tấn (giá giao hàng), trong khi một bên mua khác chia sẻ rằng họ hiện không tham gia thị trường, nhưng nếu đặt giá mua, họ sẽ chỉ đưa ra mức 740 Euro/tấn đã tính phí vận chuyển. Một đơn vị cán lại thép (re-roller) gần đây đã đưa ra mức giá chào bán cho sản lượng tháng 1 là 770 Euro/tấn xuất xưởng.
Hoạt động tại thị trường Ý diễn ra chậm chạp và giá cả không có biến động. Các nguồn tin vẫn tiếp tục thảo luận về diễn biến pháp lý gần đây, trong đó tòa án giữ nguyên lệnh đóng cửa các phân xưởng sản xuất thượng nguồn (hot-end operations) của công ty Acciaierie d'Italia (ADI). Việc mất gần 2 triệu tấn/năm công suất sản xuất thép thôdo chỉ còn một lò luyện duy nhất tiếp tục hoạt động đang gây lo ngại cho một số thành viên trên thị trường, mặc dù một số đơn vị đã nhập khẩu lượng lớn phôi tấm có thể giúp bù đắp phần thiếu hụt này.
Tại Tây Ban Nha, giá chào bán trong tuần không thay đổi, ở mức 780 Euro/tấn giá giao hàng và nguồn cung vẫn còn hàng sản xuất trong tháng 12.
Trên thị trường tấm mỏng, giá chào vẫn giữ nguyên. Tại Ý, giá vẫn cao hơn khu vực phía bắc khoảng 10 Euro/tấn. Thép tấm từ Ý được chào ở mức 830–850 Euro/tấn (giá giao hàng), tuy nhiên hầu hết các giao dịch thực tế nằm trong khoảng 820–830 Euro/tấn.
Theo các thành viên thị trường, rất khó để chốt giao dịch ở mức giá trên 830 Euro/tấn (giá giao hàng). Tại khu vực phía bắc, giá chào từ các trung tâm dịch vụ thép độc lập dao động từ 810–830 Euro/tấn (giá giao hàng) hoặc cao hơn. Trong khi đó, một số đơn vị bán hàng liên kết với các nhà máy thép vẫn đưa ra mức giá thấp hơn, gần ngưỡng 800 Euro/tấn, bất chấp xu hướng tăng của giá thép cuộn cán nóng.
Mức giá tham chiếu hàng tuần cho thép tấm mỏng tại Ý đã tăng 5 Euro/tấn, lên mức 820 Euro/tấn (giá giao hàng), trong khi mức giá tham chiếu tại khu vực tây bắc vẫn ổn định ở mức 810 Euro/tấn (giá giao hàng).
Kỳ vọng nhu cầu và giá thép thanh Mỹ sẽ ổn định đầu tháng 11
Giá thép thanh tại Mỹ ổn định tuần qua sau khi các nhà máy thép thực hiện thành công đợt tăng giá đã công bố trước đó trong tháng 10. Một số thành viên tham gia thị trường dự báo giá cả sẽ không còn thay đổi nhiều trong thời gian còn lại của năm nay.
Giá thép thanh xuất xưởng tại khu vực miền Nam nước Mỹ và Midwest vẫn giữ nguyên ở mức 960–980 USD/tấn trong khi giá thép thanh nhập khẩu duy trì ở mức 920–960 USD/tấn DDP Houston.
Theo các thành viên thị trường, đợt tăng giá 30 USD/tấn đối với thép sản xuất trong nước được hỗ trợ bởi chi phí thay thế (replacement costs) tăng cao. Một số nguồn tin cho biết nhu cầu tại khu vực Midwest vẫn ổn định và dự báo nguồn cung thép nhập khẩu sẽ trở nên khan hiếm hơn trong vài tháng tới.
Các dự án phát triển trung tâm dữ liệu, cơ sở hạ tầng năng lượng và chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng tiếp tục thúc đẩy tiêu thụ thép, trong khi lĩnh vực xây dựng nhà ở vẫn còn yếu.
Trong tháng 9, số lượng giấy phép xây dựng được cấp cho các tòa nhà từ năm căn hộ trở lên (bất động sản thương mại) đã tăng 1% so với cùng kỳ năm trước, đạt tốc độ hàng năm là 503.000 căn. Tuy nhiên, số lượng dự án nhà ở khởi công lại giảm 25,9% xuống còn 349.000 căn trong cùng giai đoạn. Giấy phép cho các dự án quy mô từ hai đến bốn căn hộ cũng giảm 10.3% so với cùng kỳ năm trước.
Tại cuộc họp gần nhất, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã giữ nguyên lãi suất trong phạm vi 3,75–4%. Fed nhận định hoạt động kinh tế đang "mở rộng với tốc độ mạnh mẽ", nhưng lạm phát "vẫn ở mức cao". Lãi suất là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sức khỏe của thị trường xây dựng nhà ở do lãi suất cao làm tăng chi phí vay vốn đối với cả nhà thầu xây dựng lẫn người mua nhà, từ đó có thể gây cản trở các hoạt động trong lĩnh vực này.
Các nhà sản xuất thép trong nước vẫn lạc quan về nhu cầu đối với các sản phẩm thép dài (long products) hướng tới năm 2027, nhờ vào các hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phi nhà ở. Công ty CMC cho biết các dự án cơ sở hạ tầng, phát triển trung tâm dữ liệu, sản xuất chất bán dẫn và xu hướng chuyển dịch sản xuất công nghiệp trở lại Mỹ vẫn đang tiếp tục hỗ trợ các hoạt động xây dựng. Mặc dù vậy, trong quý IV của năm tài chính, công ty đã xuất xưởng 507.000 tấn thép thanh vằn (rebar), giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thép thương phẩm (merchant bar) đạt 311.000 tấn, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái, bù đắp cho sự sụt giảm ở mảng thép thanh vằn, giúp tổng sản lượng thép xuất xưởng trong quý tăng 4%, đạt 818.000 tấn.
Gerdau cho biết nhu cầu tăng mạnh đến từ các lĩnh vực sản xuất, trung tâm dữ liệu và các dự án năng lượng tái tạo. Trong quý III, công ty đã xuất xưởng 1,44 triệu tấn thép tại Bắc Mỹ, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước.
Nucor cũng ghi nhận nhu cầu cao từ các trung tâm dữ liệu, dự án mở rộng lưới điện và cơ sở hạ tầng nhưng dự kiến sẽ có sự sụt giảm theo mùa trong các hoạt động sản xuất và xây dựng khi kỳ nghỉ lễ đến gần.
Giá thép thanh thương phẩm Mỹ đạt mức cao mới trong tháng 10
Các nhà máy sản xuất thép dài tại Mỹ đã tiếp tục tăng giá thép thanh thương phẩm (MBQ) và thép dầm trong tháng 10, nhờ nhu cầu mạnh mẽ từ lĩnh vực xây dựng phi dân dụng.
Các nhà sản xuất thép gồm Gerdau, Steel Dynamics (SDI) và Nucor đã tăng giá MBQ thêm 30 USD/tấn vào ngày 09/10. Các công ty này không thực hiện thêm bất kỳ thay đổi nào đối với giá niêm yết trong khoảng thời gian còn lại của tháng.
Trong khi đó, giá thép góc MBQ loại 2x2x0,25 inch và 3x3x0,25 inch đều tăng 30 USD/tấn, lần lượt đạt mức 1.356 USD/tấn và 1.365 USD/tấn xuất xưởng. Thép dẹt MBQ loại 4x0,5 inch và tròn loại 1 inch cũng tăng với mức tương tự, lần lượt đạt 1.360 USD/tấn và 1.384 USD/tấn xuất xưởng. Giá niêm yết cho thép hình chữ U loại 8x11,5 inch tăng lên mức 1.540 USD/tấn xuất xưởng.
Trong các buổi công bố kết quả kinh doanh hàng quý tháng này, Nucor và SDI đều cho biết nhu cầu đối với thép MBQ đang rất mạnh mẽ, được thúc đẩy bởi các hoạt động xây dựng công nghiệp và phi dân dụng sôi động. Nucor ghi nhận sản lượng xuất xưởng MBQ đạt mức cao nhất trong nhiều năm, với nhu cầu đến từ các dự án xây dựng trung tâm dữ liệu. Trong khi đó, SDI cho biết lượng đơn đặt hàng tồn đọng của họ kéo dài đến tận năm 2027.
Tổng chi tiêu cho xây dựng phi dân dụng tại Mỹ trong tháng 8 đạt 1,309 nghìn tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Chi tiêu cho xây dựng văn phòng (bao gồm cả các trung tâm dữ liệu) đã tăng 25% so với cùng kỳ năm trước, bù đắp cho sự sụt giảm ở các phân khúc xây dựng khác như sản xuất, an toàn công cộng, y tế, thương mại và lưu trú.
Theo số liệu sơ bộ, lượng nhập khẩu các loại thép kết cấu hạng nặng trong tháng 9 đạt 121.000 tấn, tăng 126% so với cùng kỳ năm trước và tăng nhẹ so với tháng 8. Các nhà sản xuất thép cũng đã tăng giá thép dầm bản rộng kích thước 8x8 thêm 50 USD/tấn, lên mức 1.750 USD/tấn xuất xưởng vào ngày 1/10 và giữ nguyên trong suốt thời gian còn lại của tháng.
Theo Viện Sắt thép Mỹ (AISI), tỷ lệ sử dụng công suất tại các nhà máy thép ở Mỹ đạt trung bình 78,5% trong tháng 10, giảm 1,3% so với tháng trước đó. Tỷ lệ này đã giảm xuống còn 76% vào cuối tháng, khi các nhà máy bước vào giai đoạn cao điểm thực hiện bảo trì theo kế hoạch.
Đà tăng giá HRC tiếp tục tại Mexico nhờ lực đẩy tỷ giá
Việc đồng peso của Mexico tiếp tục mất giá so với đồng đô la Mỹ đã đẩy giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại thị trường nội địa tăng thêm trong tuần qua, mặc dù các nhà máy vẫn giữ mức giá chào bán tại xưởng trong khoảng 1.030–1.035 USD/tấn.
Giá HRC xuất xưởng tại Mexico đã tăng 150 peso/tấn, lên mức 19.450–19.500 peso/tấn, so với mức 19.050–19.150 peso/tấn trước đó.
Các bên mua cho biết giá thép cuộn cán nguội) vẫn cao hơn giá HRC khoảng 150 USD/tấn, trong khi các nhà máy vẫn duy trì sự nhất quán trong chính sách giá đối với mặt hàng này.
Dự kiến các nhà sản xuất sẽ tiếp tục tăng giá thêm 20–25 USD/tấn vào tuần đầu tháng 11. Theo các thành viên thị trường, giá trong nước vẫn gắn chặt với diễn biến tại thị trường Mỹ. Các nhà máy Mexico thường cố gắng duy trì mức giá thấp hơn khoảng 300 USD/tấn so với giá HRC tại Mỹ, đồng thời bám sát xu hướng giá chung.
Áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu vẫn ở mức hạn chế. Các loại thuế quan mà Mexico áp dụng đối với thép dẹt nhập khẩu từ hầu hết các quốc gia (bao gồm cả Việt Nam), cùng với thuế chống bán phá giá đối với thép từ Trung Quốc, đã tiếp tục hỗ trợ giá thép nội địa và giảm bớt áp lực từ các nhà cung cấp nước ngoài.




