Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thế giới ngày 16/7/2026

Thép dài Châu Á - Thái Bình Dương: Các nhà máy cắt giảm sản xuất thúc đẩy thị trường

Giá thép dài nội địa Trung Quốc đã tăng trong hôm thứ Tư (15/7) khi ngày càng có nhiều nhà máy công bố kế hoạch bảo trì trong bối cảnh tiêu thụ thép theo mùa yếu.

Thép thanh (Rebar)

Giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn (2,95 USD/tấn) lên mức 3.060 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7. Giá thép thanh kỳ hạn tháng 10 tăng 45 nhân dân tệ/tấn lên 3.115 nhân dân tệ/tấn.

Theo các thành viên tham gia thị trường, một số nhà máy thép tại Đường Sơn, trung tâm sản xuất thép chính của Trung Quốc, đã công bố kế hoạch bảo trì dự kiến sẽ làm giảm tổng sản lượng gang lỏng khoảng 60.000 tấn/ngày trong giai đoạn từ 15 đến 30 tháng 7. Do đó, tỷ lệ vận hành lò cao của các nhà máy tại Đường Sơn dự kiến sẽ giảm đáng kể trong phần còn lại của tháng 7, tạo ra một số hỗ trợ cho giá thép nội địa.

Theo dữ liệu của Cục Thống kê Quốc gia (NBS), sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng 5,3% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 6. Tốc độ tăng trưởng này đã tăng tốc từ mức 4,5% của tháng 5, giúp cải thiện tâm lý thị trường.

Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản về nhu cầu thép cho thấy rất ít sự cải thiện. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm 2,4% so với một năm trước, trong khi tồn kho thép dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong tuần này, làm hạn chế đà tăng của giá thép nội địa.

Chỉ số giá thép thanh xuất khẩu (fob) Trung Quốc không đổi ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Các nhà máy Trung Quốc đã bán 30.000 tấn thép thanh cho Hồng Kông ở mức 502 USD/tấn (cfr, trọng lượng thực tế), tương đương khoảng 472 USD/tấn (fob, trọng lượng lý thuyết). Tuy nhiên, giá nội địa vững hơn đã thúc đẩy các nhà máy nâng mức chào giá xuất khẩu tham chiếu mới nhất lên 505 USD/tấn (cfr, trọng lượng thực tế) hoặc cao hơn. Nhìn chung, hoạt động của thị trường thép dài vẫn còn trầm lắng tại Trung Quốc và các thị trường lớn ở Đông Nam Á.

Thép cuộn trơn và phôi thép billet

Chỉ số giá thép cuộn trơn xuất khẩu (fob) Trung Quốc không đổi ở mức 497 USD/tấn (fob). Một nhà máy lớn ở miền Đông Trung Quốc vẫn giữ mức chào giá tháng 8-9 cho thép cuộn trơn hàm lượng carbon cao ở mức 530 USD/tấn (fob), trong khi một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc giữ nguyên mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob). Các mức chào giá thép cuộn trơn của Indonesia đứng ở mức 485 USD/tấn (fob) cho các lô hàng tháng 9. Giá xuất khẩu từ Trung Quốc và các nhà cung cấp lớn tại Đông Nam Á tiếp tục thiếu động lực tăng giá trong bối cảnh nhu cầu thép toàn cầu chững lại theo mùa.

Giá phôi thép billet xuất xưởng tại Đường Sơn đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn lên mức 2.990 nhân dân tệ/tấn hôm thứ Tư. Một nhà máy của Indonesia đã tăng mức chào giá xuất khẩu phôi thép tháng 9 thêm 5 USD/tấn so với đầu tuần này lên mức 465 USD/tấn (fob). Các nhà cung cấp Trung Quốc cũng đã nâng mức chào giá xuất khẩu phôi thép từ 458-460 USD/tấn (fob) hồi đầu tuần lên mức 463-465 USD/tấn (fob). Một số người mua sẵn sàng chốt đơn hàng ở mức khoảng 458 USD/tấn (fob), nhưng nhìn chung sự quan tâm mua hàng vẫn yếu do triển vọng thị trường không chắc chắn.

Tóm tắt hoạt động thị trường

Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 460 USD/tấn (fob Indonesia).

Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 465 USD/tấn (fob Trung Quốc).

Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 463-465 USD/tấn (fob Trung Quốc).

Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức giá hỏi mua phôi 3sp ở mức 458 USD/tấn (fob Trung Quốc).

Thép thanh-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép thanh B500B ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).

Thép thanh-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép thanh B500B ở mức 505 USD/tấn (cfr Hồng Kông).

Thép cuộn-Trung Quốc: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá thép cuộn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).

Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).

Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức giá tham chiếu cho thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).

Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 525 USD/tấn (fob miền Đông Trung Quốc).

Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn hàm lượng carbon cao ở mức 530 USD/tấn (fob miền Đông Trung Quốc).

Thép cuộn trơn-ASEAN: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 485 USD/tấn (fob Indonesia).

Thép dẹt Châu Á - Thái Bình Dương: Hoạt động vận tải biển gia tăng

Giá thép nội địa và xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng nhờ tâm lý thị trường được củng cố, trong khi giá thép cuộn vào Việt Nam tiếp tục giảm do mức giao dịch thấp hơn.

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại kho ở Thượng Hải đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn (2,94 USD/tấn) lên mức 3.330 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7. Các nhà bán hàng tiếp tục đẩy giá lên theo đà tăng của thị trường kỳ hạn, nhưng giao dịch trên thị trường hàng vật chất đã suy yếu sau khi giá tăng. Người mua tỏ ra ngần ngại trong việc theo đuổi mức giá cao hơn sau đợt thu mua vào ngày 14 tháng 7, và một số người vẫn thiếu tự tin về khả năng giá tiếp tục tăng vì nhu cầu hạ nguồn vẫn còn khá nguội lạnh.

Tâm lý thị trường được củng cố khi một số thành viên tham gia thị trường kỳ vọng Bắc Kinh sẽ tung ra các chính sách kích thích kinh tế trong quý ba để cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP sau khi Cục Thống kê Quốc gia công bố tốc độ tăng trưởng GDP quý hai của nước này ở mức 4,3%.

Hợp đồng HRC tháng 10 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đã tăng 1,12% so với giá chốt của ngày giao dịch trước đó, lên mức 3.327 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7.

Giá HRC xuất khẩu của Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên 487 USD/tấn (fob Trung Quốc). Các nhà máy tư nhân ở miền Bắc Trung Quốc đã nâng mức giá khả thi cho HRC mác Q235 và Q195 lên trên 490 USD/tấn (fob) hôm thứ Tư, so với mức 487-490 USD/tấn (fob) của ngày hôm trước, do tâm lý thị trường thép tại Trung Quốc đã được củng cố. Sự gia tăng doanh số bán hàng tại thị trường nội địa vào ngày 14 tháng 7 cũng hỗ trợ các nhà máy thép nâng giá trong hôm thứ Tư. Theo các nguồn tin từ nhà máy, mối quan tâm của người mua đường biển đã tăng theo mức giá cao hơn, nhưng hầu hết họ vẫn giữ các mức giá chào mua thấp ở mức 480-485 USD/tấn (fob Trung Quốc) đối với HRC mác SS400 và Q235.

Tại Việt Nam, các hoạt động thương mại đã gia tăng. Theo các nguồn tin từ Việt Nam, các mức chào giá đối với HRC mác SAE1006 của Indonesia phần lớn ổn định ở mức 520-530 USD/tấn (cfr Việt Nam), tùy thuộc vào độ dày, và hai lô giao dịch đã được chốt trong tuần này ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam) bởi các khách hàng hạ nguồn. Một số công ty thương mại đã nâng giá chào đối với HRC mác SS400 của Ấn Độ và Indonesia lên 522 USD/tấn (cfr Việt Nam) hôm thứ Tư, từ mức 518-520 USD/tấn (cfr) của ngày hôm trước, sau khi các giao dịch được chốt ở mức 517 USD/tấn (cfr). Tâm lý thị trường đã được củng cố và một số thành viên tham gia cho biết mức giá hiện tại có khả năng là mức đáy trong thời gian tới, trong khi họ nói thêm rằng nhu cầu yếu sẽ ít có khả năng hỗ trợ việc tăng giá đáng kể. Giá HRC ASEAN giảm 1 USD/tấn xuống còn 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

Một nhà máy thép Việt Nam đã bán HRC với giá 545-550 USD/tấn (cfr Hàn Quốc) trong tuần này cho các lô hàng giao tháng 8-9. Các thành viên tham gia thị trường cho biết, trước đây nhà máy này hầu như không thực hiện bán HRC sang Hàn Quốc, và có lẽ luồng thương mại mới này là kết quả của nhu cầu theo mùa chậm lại tại Việt Nam và hạn ngạch thương mại tự do đối với HRC từ Việt Nam vào EU đang bị thắt chặt.

Các mức chào giá đối với HRC của Nhật Bản ở mức 490-500 USD/tấn (fob).

Tóm tắt hoạt động thị trường

HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 522 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 522 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác Q355 ở mức 535 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác Q355 ở mức 530 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kông báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 494 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức giá hỏi mua tham chiếu cho HRC mác SS400 ở mức 482,50 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 493 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức giá tham chiếu cho HRC mác Q235 ở mức 490 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 504 USD/tấn (fob Trung Quốc).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 530 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 517 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức giá tham chiếu cho HRC mác SAE1006 nguồn gốc không xác định ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Công ty thương mại miền Bắc Trung Quốc báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Công ty thương mại miền Bắc Trung Quốc báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 525 USD/tấn (cfr Việt Nam).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Việt Nam ở mức 550 USD/tấn (cfr Hàn Quốc).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Việt Nam ở mức 545 USD/tấn (cfr Hàn Quốc).

HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Nhật Bản ở mức 495 USD/tấn (fob Nhật Bản).

Thép dẹt Iran: Việc đóng cửa eo biển Hormuz khiến hoạt động thương mại bị đình trệ

Hoạt động thương mại đối với phôi phiến (slab) và thép dẹt từ Iran một lần nữa bị đình trệ sau khi eo biển Hormuz đóng cửa.

Phôi phiên (Slab)

Không có lô hàng phôi phiến xuất khẩu mới nào được ghi nhận trong tuần qua. Các nhà sản xuất đã nhắm tới việc khởi động lại hoạt động xuất khẩu, với việc Khuzestan Steel đưa ra thông báo mời thầu từ 30.000-50.000 tấn phôi phiến vào tuần trước. Tuy nhiên, không có giao dịch nào được hoàn tất.

Khuzestan đã nhận được các mức giá chào thầu ở mức 420-423 USD/tấn (fob cảng Bandar Imam Khomeini - BIK), nhưng các giao dịch không thể chốt được. Các nhà cung cấp khác cũng đã tạm dừng đàm phán trong bối cảnh eo biển này bị đóng cửa trên thực tế.

Nhu cầu phôi phiến nội địa vẫn ở mức yếu. Mặc dù các hạn chế xuất khẩu tạm thời đã được dỡ bỏ vào cuối tháng 5, các nhà sản xuất vẫn tiếp tục phải vật lộn với tình trạng sản lượng bị hạn chế sau các cuộc không kích hồi cuối tháng 3, khiến khối lượng giao dịch thấp hơn nhiều so với mức trung bình lịch sử.

Giá đã tăng so với tuần trước trên Sàn giao dịch hàng hóa Iran (IME). Tổng cộng 31.000 tấn phôi phiến đã được chào bán ở mức 641.300-675.000 rial/kg (450 USD/tấn) tại kho nhà máy, với khoảng 22.500 tấn đã được bán trong tuần.

Thép dẹt (Flats)

Hoạt động xuất khẩu thép dẹt từ Iran vẫn ảm đạm trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang. Một vài lô hàng thép cuộn cán nóng (HRC) đã được xuất khẩu với giá 560-570 USD/tấn (fob biển Caspian) sang các nước CIS, trong khi những người bán vẫn đang đàm phán xuất khẩu sang các quốc gia láng giềng.

Các thành viên tham gia thị trường đã dừng các hoạt động nhập khẩu do lệnh phong tỏa mới của Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 14 tháng 7, đã ngăn cản người mua đảm bảo các lô hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

Việc đóng cửa eo biển Hormuz, kết hợp với tình trạng đình trệ công nghiệp được ghi nhận tại tỉnh Hormozgan và tình trạng mất điện trên diện rộng, đã buộc các nhà sản xuất phải chuyển hướng hoàn toàn sang thị trường nội địa. Các dòng chảy nhập khẩu và các gói thầu xuất khẩu đã lên kế hoạch dự kiến sẽ phải đối mặt với những gián đoạn nghiêm trọng và kéo dài trong những ngày tới.

Thép dài Châu Âu: Các nhà máy lại nhắm đến việc tăng giá

 Giá thép dài tại Ý đã giảm sâu hơn trong vài ngày qua và các nhà máy vẫn tiếp tục bán với mức giá rất cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, một số thành viên tham gia thị trường kỳ vọng các đợt tăng giá sẽ sớm được công bố và tin rằng họ có thể nhận được sự chấp nhận từ phía người mua sau giai đoạn trầm lắng của tháng 8.

Đánh giá hàng tuần của thép thanh (rebar) nội địa Ý đã giảm 5 euro/tấn xuống còn 685 euro/tấn xuất xưởng vào hôm thứ Tư, trong khi đánh giá hàng tuần cho giá cuộn trơn rút dây nội địa cũng giảm 5 euro/tấn xuống còn 700 euro/tấn giao hàng.

Nhu cầu nội địa tại Ý rất yếu trong những ngày gần đây, và các nhà máy tiếp tục hạ giá chào bán nhằm thu hút người mua. Khối lượng giao dịch thép thanh vẫn ở mức thấp, và giá giao dịch đã chuyển sang mức 580-590 euro/tấn xuất xưởng so với mức 580-600 euro/tấn xuất xưởng vào tuần trước. Giá thép cuộn trơn được ghi nhận ở mức khoảng 700 euro/tấn giao hàng.

Các nhà máy đang có lượng tồn kho dồi dào, trong khi người mua tại Ý đang hoạt động với mức tồn kho thấp, chủ yếu do nhu cầu xây dựng chậm. Một số nguồn tin thương mại cho rằng có thể có một đợt bổ sung hàng tồn kho nhỏ trong những ngày tới trước khi tháng 8 trầm lắng diễn ra, đồng thời cũng có cảm nhận rằng các nhà máy sắp công bố mức tăng giá cho các lô hàng giao vào cuối tháng 8.

Do nhu cầu nội địa chậm, và tận dụng các hạn chế nhập khẩu nghiêm ngặt hơn của EU, các nhà máy Ý đã tập trung vào xuất khẩu sang Đông Nam Âu trong vài tuần qua. Các thương nhân cho biết, đặc biệt có một nhà máy lớn đang sở hữu một lượng hàng tồn kho lớn và tiếp tục bán các lô hàng từ 5.000-10.000 tấn cho người mua tại Romania. Giá chào xuất khẩu ngày 15/7 được ghi nhận ở mức 570 euro/tấn fob Ý, cộng với một khoản phí nhỏ cho mặt hàng 8mm, trong khi thép thanh dạng cuộn (spooled coils) được chào ở mức 600 euro/tấn fob.

Các mức giá này được các nguồn tin đánh giá là có lợi nhuận, với giá phế tại Ý đã giảm hơn 20 euro/tấn trong tháng qua.

Một nhà máy Ý khác từng bán hàng cho người mua tại Romania đã rút khỏi thị trường này hai ngày trước, sau khi đã giải phóng được một phần hàng tồn kho.

Gần đây, một số nguồn tin cho rằng giá thép Châu Âu có khả năng sẽ tăng vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9, một phần không nhỏ là do tác động tổng hợp của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU và hạn ngạch nhập khẩu nhỏ hơn, cùng với sự gia tăng nhu cầu theo mùa.

Vẫn còn thiếu sự rõ ràng về việc hạn ngạch dư thừa 39.700 tấn đối với thép thanh và 30.700 tấn đối với thép cuộn trơn sẽ được quản lý như thế nào, và vẫn còn những câu hỏi về cách tính thuế phải nộp. Tuy nhiên, theo các ước tính đang phổ biến trên thị trường, những nhà nhập khẩu thép thanh và thép cuộn trơn từ Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 7 này có khả năng phải trả mức thuế khoảng 20%, điều này tạo cơ hội cho các nhà máy Châu Âu tăng giá chào trong những tuần tới mà không bị mất nhiều thị phần vào tay các nhà nhập khẩu.

Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) EU: Giá tăng nhờ các giao dịch

Giá thép cuộn mạ kẽm nhúng nóng (HDG) nhập khẩu và nội địa tại châu Âu đã tăng, với các đơn đặt hàng gần đây từ Việt Nam đã đẩy giá trị lên cao sau một số đợt giảm giá vào tuần trước.

Đánh giá hàng tuần cho HDG (cif Tây Ban Nha) đã tăng 15 euro/tấn lên mức 740 euro/tấn đối với vật liệu z140 0,57.

Một số giao dịch đã được chốt cho lô hàng tháng 8 và dự kiến sẽ được thông quan trong kỳ hạn ngạch hiện tại. Các đơn hàng khác đã được hoàn tất cho lô hàng tháng 10, nhưng những đơn hàng này có thể sẽ phải nhập khẩu vào tháng 1.

Các thành viên tham gia thị trường cho biết các giao dịch nhập khẩu đã được thực hiện ở mức 830–860 USD/tấn (cfr) vào EU từ Việt Nam đối với các thông số kỹ thuật được đánh giá. Chỉ khoảng 19.000 tấn HDG của Việt Nam đã được nộp hồ sơ thông quan trong hai tuần đầu tháng, để lại gần 100.000 tấn hạn ngạch còn trống cho đến cuối tháng 9. Người mua vẫn còn đôi chút thận trọng trong việc đặt hàng số lượng lớn vật liệu nhập khẩu do lo ngại về các khoản thuế phải nộp. Một nhà máy đã chào giá lên tới 890 USD/tấn (cif Tây Ban Nha), nhưng có những hạn chế về thông số kỹ thuật mà nhà sản xuất này sẵn sàng bán.

Một số mức giá HDG của Ấn Độ được nghe ở mức 850-860 USD/tấn (cfr), nhưng việc sử dụng hạn ngạch được cho là thậm chí còn rủi ro hơn so với Việt Nam. Một người mua đã được chào giá HDG Thổ Nhĩ Kỳ ở mức hơn 770 euro/tấn (cif, chưa bao gồm thuế chống bán phá giá), nhưng họ tin rằng thuế chống bán phá giá sẽ được tính vào sau khi đàm phán. Tuy nhiên, việc phân bổ hạn ngạch nhỏ cho Thổ Nhĩ Kỳ theo hạn ngạch của EU có nghĩa là người mua dự đoán sẽ phải chịu thêm các khoản thuế đáng kể.

Tại thị trường nội địa EU, các nhà máy đang tiếp tục thúc đẩy mức giá cao hơn. Một mức chào giá tại Ý được ghi nhận hôm thứ Tư ở mức 840 euro/tấn xuất xưởng. Một mức giá khác ở mức 845-850 euro/tấn cơ sở giao hàng, với người bán báo cáo rằng đã có sự chấp nhận từ phía người mua. Một nhà cung cấp EU chào giá 830-850 euro/tấn cơ sở giao hàng tại Ý, nhưng nhận thấy mức thị trường thấp hơn một chút. Một người mua đã được chào giá 820-830 euro/tấn cơ sở giao hàng và lưu ý rằng các nhà máy sẽ không giảm giá thấp hơn mức này.

Ở phía Bắc, một nhà máy đã đưa ra mức 850 euro/tấn cơ sở giao hàng vào Đức, một mức giá mà nhà sản xuất này mô tả là khó chuyển phần tăng giá sang cho khách hàng. Nhà máy thứ hai chào giá cho khách hàng ở mức 840 euro/tấn cơ sở giao hàng, trong khi ở phía mua, mức giá 830-850 euro/tấn cơ sở giao hàng được báo cáo bởi hai trung tâm dịch vụ khác nhau. Sản lượng sản xuất nội địa hiện đang dành cho tiến độ cán tháng 10.

"Hiện tại có rất ít các chào giá cho vật liệu nhập khẩu trên thị trường", một người mua ở phía Bắc cho biết.

Đánh giá hàng tuần cho giá HDG Ý đã tăng 10 euro/tấn lên mức 820 euro/tấn xuất xưởng, trong khi chỉ số HDG Tây Bắc EU tăng cùng mức đó lên 810 euro/tấn xuất xưởng.

Thép dài Iran: Xuất khẩu đường biển đình trệ

Xuất khẩu thép dài đường biển của Iran đã bị đình trệ trong tuần này do các gián đoạn an ninh tại eo biển Hormuz và sự quan tâm mua hàng yếu ớt. Nguồn cung phôi thép nội địa thắt chặt đã đẩy giá tăng cao sau tình trạng mất điện nghiêm trọng và đồng rial suy yếu.

Phôi thép (Billet)

Không có giao dịch hoặc gói thầu xuất khẩu phôi thép đường biển mới nào được ghi nhận trong tuần này. Ít nhất bốn tàu đang chờ tại khu vực neo đậu để bốc hàng, trong khi một số tàu khác đã hủy các chuyến hàng do rủi ro an ninh và logistics nghiêm trọng tại eo biển Hormuz, tình hình càng trở nên trầm trọng hơn bởi hoạt động hải quân mới của Hoa Kỳ bắt đầu từ ngày 14 tháng 7.

Tàu chở hàng rời Luni, vận chuyển 43.000 tấn phôi thép, đã gặp va chạm và chìm tại eo biển Hormuz trong tuần này, làm gia tăng sự không chắc chắn đối với hoạt động hàng hải trong khu vực.

Các nhà sản xuất đã tạm dừng các gói thầu mới để tập trung vào việc bốc xếp các cam kết trước đó. Một vài nhà cung cấp chào giá phôi thép ở mức 410-414 USD/tấn (fob), nhưng người mua chào giá thấp hơn ở mức 400-405 USD/tấn (fca) cho các lô hàng giao bằng đường bộ tới các nước láng giềng. Các thành viên tham gia thị trường báo cáo không có sự quan tâm nào đến việc đặt hàng đường biển.

Ít nhất 3.000 tấn phôi thép đã được bán với giá 400 USD/tấn (fca) tại biên giới Afghanistan, trong khi các nhà cung cấp chào giá phôi thép xuất khẩu đường bộ ở mức 385-390 USD/tấn (tại kho nhà máy). Trên Sàn giao dịch hàng hóa Iran (IME), một nhà sản xuất đã bán 20.000 tấn phôi 3sp kích thước 150x150mm với giá 635.000 rial/kg (385 USD/tấn) tại kho Yazd. Một nhà sản xuất khác đã bán 40.000 tấn cùng loại với giá 592.652 rial/kg (395 USD/tấn) tại kho Bandar Abbas, tương đương mức khoảng 407 USD/tấn (fob) thông qua IME trong tuần này.

Giá phôi thép nội địa tăng khoảng 16 USD/tấn lên mức 635.400 rial/kg (423 USD/tấn), được hỗ trợ bởi nguồn cung trong nước thắt chặt hơn. Nhu cầu quốc tế vẫn trầm lắng. Người mua tại Đông Nam Á im ắng khi giá hàng hóa của Nga giảm xuống 468 USD/tấn (fob). Hoạt động xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ đã dừng lại do rủi ro hàng hải tăng cao và thời gian vận chuyển đường sắt không khả thi. Người mua tại Bắc Phi và GCC đã ngừng nhập khẩu vật liệu từ Iran.

Thép dài

Giá thép thanh (rebar) ổn định, nhưng hoạt động xuất khẩu (fob) chậm lại và phần lớn chỉ giới hạn ở việc vận chuyển bằng xe tải sang các nước láng giềng. Nhu cầu nội địa trì trệ do tiêu thụ hạ nguồn yếu, trái ngược với thị trường phôi thép vững chắc hơn. Các nhà máy cán lại và các nhà xuất khẩu vẫn thận trọng khi cam kết sản lượng mới do tình trạng mất điện kéo dài và các rủi ro về logistics.

Các lô hàng thép thanh gần đây được chào ở mức 420-430 USD/tấn (tại kho nhà máy), với loại thép B500B ở mức 430-440 USD/tấn (tại kho nhà máy). Thương mại khu vực bị cản trở thêm sau khi Iraq cấm quá cảnh thép của Iran trong tuần này, làm chậm đáng kể hoạt động tái xuất khẩu sang Syria và Jordan. Ở các phân khúc khác thuộc tổ hợp thép dài, một vài lô hàng thép cuộn trơn đã được xuất khẩu với giá 460-470 USD/tấn (fob) vào tuần trước, trong khi các lô hàng dầm thép chữ I (I-beam) được chào với giá 450 USD/tấn (tại kho nhà máy) sang các nước láng giềng.

Thép cuộn cán nóng (HRC) EU: Giá tăng nhẹ

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại châu Âu đã tăng nhẹ do các mức chào giá cao hơn một chút, mặc dù hoạt động giao dịch vẫn chậm chạp với một vài điểm cầu nhỏ khi người mua chốt nguồn cung để phòng ngừa rủi ro giá tăng thêm.

Hoạt động ở mức dưới trung bình hiện không gây áp lực lên các nhà máy, vì họ đang lấp đầy những khoảng trống cuối cùng trong sổ đơn hàng cho kế hoạch sản xuất tháng 9, sau khi đã thu thập các đơn hàng ở mức giá thấp hơn trước và ngay sau khi các biện pháp nhập khẩu mới có hiệu lực.

Đánh giá hàng ngày về giá HRC tại Tây Bắc Âu đã tăng 1,25 euro/tấn lên 704,75 euro/tấn (tại kho nhà máy) hôm thứ Tư, trong khi đánh giá hàng ngày cho giá HRC tại Ý đã tăng 1 euro/tấn lên 702,25 euro/tấn (tại kho nhà máy).

Các thành viên tham gia thị trường Tây Bắc Âu tiếp tục báo cáo rằng một nhà máy tích hợp đã giao dịch các khối lượng không xác định ở mức 710 euro/tấn cơ sở (tại kho nhà máy). Một thương nhân cho biết họ hiện đang tìm kiếm mức giá 740 euro/tấn (tại kho nhà máy). Nhà sản xuất thứ hai đưa ra mức giá 730-740 euro/tấn cơ sở (giao hàng vào Đức), chốt được một số lô nhỏ ở các mức giá này. Nhà cung cấp này cho biết họ đã từ chối một đơn chào mua ở mức 710 euro/tấn cơ sở (giao hàng) cho vài nghìn tấn, vì họ đã kín đơn hàng. Hầu hết các nhà sản xuất đang chào bán cho tiến độ sản xuất tháng 9 và kéo dài sang quý 4.

Một nhà máy cán lại được ghi nhận vắng bóng trên thị trường giao ngay sau khi một người mua đưa ra đề nghị hỏi mua hàng nhưng không nhận được báo giá. Các giao dịch bán hàng cuối cùng mà nhà máy thực hiện được báo cáo ở mức 700-705 euro/tấn cơ sở (tại kho nhà máy). Các mức chào giá rất khó tìm và các nhà máy hiện không theo đuổi các đơn hàng vào lúc này, một trung tâm dịch vụ cho biết.

Tại Ý, thị trường đang chuyển động chậm, nhưng các cuộc đàm phán có vẻ thưa thớt do một số bên đang chật vật với tình trạng gián đoạn nhập khẩu. Hiện chưa rõ các nhà máy đã đạt được mức giá chào của họ hay chưa, vì nhiều người mua ưu tiên dựa vào các hợp đồng liên kết chỉ số có giá thấp hơn đáng kể, vốn phụ thuộc vào các chỉ số được công bố mỗi tháng một lần và do đó không phản ánh đúng giá giao ngay hiện tại. Một nhà máy cán lại đã chào giá cơ sở ở mức 740 euro/tấn (tại kho nhà máy).

Sản lượng thép của Trung Quốc tăng nhẹ trong tháng 6

Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong tháng 6 đã tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, được hỗ trợ bởi giá thép nội địa cao hơn và nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ hơn.

Theo dữ liệu được Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố vào ngày 15 tháng 7, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 83,67 triệu tấn trong tháng 6, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước đó.

Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống còn 499,95 triệu tấn.

Giá thép Trung Quốc có xu hướng giảm trong tháng 6, nhưng giá thép nội địa bình quân trong tháng vẫn duy trì ở mức cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá thép thanh bình quân tháng 6 cao hơn 2-3% so với một năm trước. Chỉ số giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải ở mức 3.100-3.150 nhân dân tệ/tấn (457-465 USD/tấn) vào cuối tháng 6 năm nay, cao hơn so với mức 3.020 nhân dân tệ/tấn vào ngày 26 tháng 6 năm 2025, vốn là mức thấp nhất kể từ khi đánh giá này bắt đầu triển khai vào năm 2018.

Theo các thành viên tham gia thị trường, tỷ lệ vận hành lò cao của các nhà máy Trung Quốc cũng tăng 1-2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt mức 84-85% trong tháng 6.

Các đơn hàng xuất khẩu mạnh cũng hỗ trợ cho sản lượng thép. Theo dữ liệu hải quan Trung Quốc, xuất khẩu thép của nước này đã tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước lên 10,32 triệu tấn trong tháng 6.

Tuy nhiên, tổng sản lượng thép đã vượt nhu cầu từ người dùng cuối, gây áp lực giảm giá từ giữa tháng 6. Chỉ số giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải đã giảm 100 nhân dân tệ/tấn xuống còn 3.060 nhân dân tệ/tấn trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7. Nhiều nhà máy Trung Quốc cũng đẩy sớm hoặc mở rộng các kế hoạch bảo trì từ cuối tháng 6 sang đầu tháng 7 khi biên lợi nhuận bị thu hẹp và nhiều nhà sản xuất rơi vào tình trạng thua lỗ. Các thành viên tham gia thị trường dự báo sản lượng thép thô trong tháng 7 sẽ giảm so với mức của tháng 6.

Sản lượng ngành kim loại đen Trung Quốc ('000 tấn)

 

Tháng 6

±% so với tháng 6/25

Tháng 1-6

±% so với tháng 1-6/25

Sản lượng thép thô

83.670

0,4

499.950

-3

Sản lượng thép thành phẩm

126.560

0

718.780

-0,9

Sản lượng gang

71.990

-0,9

426.640

-2,8

Sản lượng than cốc luyện kim

42.040

1,1

252.500

1,6

Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tăng trong tháng 6

Tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc đã tăng trong tháng 6, hỗ trợ nhu cầu thép mạnh mẽ hơn.

Sản xuất công nghiệp của Trung Quốc tăng 5,3% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,5% so với tháng trước đó, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy.

Sản lượng sản xuất chế tạo tăng 6%, trong khi sản lượng khai thác giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất chế tạo chiếm hơn một nửa nhu cầu thép của Trung Quốc và là động lực chính thúc đẩy giá thép dẹt tăng cao.

Phân khúc phụ của ngành này là sản xuất ô tô tăng 8,7% so với năm trước và sản xuất thiết bị cũng tăng 9,9% so với cùng kỳ.

Các lĩnh vực vận tải khác như sản xuất đường sắt, đóng tàu và hàng không vũ trụ tăng 18,2%.

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 6. Lĩnh vực này chiếm khoảng 1/5 tổng nhu cầu thép.

Dữ liệu của NBS cho thấy đầu tư vào lĩnh vực bất động sản trong giai đoạn tháng 1-6 giảm 18% so với năm trước. Các dự án khởi công mới tính theo diện tích giảm 23,4% so với cùng kỳ trong giai đoạn tháng 1-6. Doanh số bất động sản tính theo diện tích sàn giảm 11,6% trong cùng kỳ.

Lĩnh vực bất động sản chiếm khoảng 1/4 nhu cầu thép của Trung Quốc.

Dữ liệu sản lượng công nghiệp và đầu tư của Trung Quốc (%)

Cơ sở

Tháng 6/26

Tháng 5/26

Tháng 4/26

Tháng 3/26

Tháng 1-2/26

Tháng 12/25

Tháng 11/25

Tháng 10/25

Tháng 9/25

Tháng 8/25

Tháng 7/25

Tháng 6/25

Sản xuất công nghiệp

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng (YoY)

5

5

4

6

6

5

5

7

5

6

7

6

Khai thác (YoY)

-2

2

4

6

6

5

6

5

6

5

5

6

Chế tạo (YoY)

6

4

4

6

7

6

5

5

7

6

6

7

Đầu tư tài sản cố định

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng (YTD)

-6

-4

-2

2

2

-4

-3

-2

-1

1

2

3

Cơ sở hạ tầng (YTD)

-2

1

4

9

11

-2

-1

0

1

2

3

5

Chế tạo (YTD)

-1

0

1

4

3

1

2

3

4

5

6

8

Bất động sản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng đầu tư BĐS (YTD)

-18

-16

-14

-11

-11

-17

-16

-15

-14

-13

-12

-11

Đầu tư nhà ở (YTD)

-18

-16

-13

-11

-11

-16

-15

-14

-13

-12

-11

-10

Nguồn: NBS

Các thương nhân chuyển hướng các lô hàng thép bị hủy vào EU do hạn ngạch

Các thương nhân đã phải chuyển hướng các lô hàng thép dự kiến đến thị trường EU trong vài tuần qua, sau khi khối này thực hiện các biện pháp nhập khẩu mới từ ngày 1 tháng 7, trong đó cắt giảm đáng kể hạn ngạch miễn thuế và tăng gấp đôi thuế quan lên 50%.

Các chi tiết kỹ thuật về hạn ngạch chỉ được công bố vào ngày 30 tháng 6, khiến các bên tham gia không kịp phản ứng với những thay đổi. Các hợp đồng đã ký kết từ nhiều tháng trước và các lô hàng đang trên đường đến EU hoặc đang ở tại các cảng EU hiện phải đối mặt với mức thuế vượt hạn ngạch đáng kể. Các mức thuế suất vẫn chưa rõ ràng do EU áp đặt thời gian tạm dừng nhập khẩu trong hai tuần.

Các thành viên tham gia thị trường báo cáo rằng các thương nhân đang chuyển hướng các lô hàng để tránh các mức thuế mới của EU. Trong một số trường hợp, các đơn hàng đã bị hủy bỏ hoàn toàn, mặc dù điều này có thể chỉ giới hạn ở những khối lượng chưa đến EU. Một số nguồn tin cho biết mặc dù các nhà nhập khẩu có thể chọn hoãn thông quan sang quý tiếp theo thay vì hủy bỏ, nhưng các nhà kho tại cảng hiện đã đầy hàng, và kỳ hạn ngạch tiếp theo có thể sẽ chứng kiến khối lượng hàng hóa tương tự được đưa ra để thông quan. Ngoài ra, một số sản phẩm thép sẽ phải lưu kho ngoài trời không có mái che, khiến chúng dễ bị hư hỏng trong khoảng thời gian ba tháng.

Việc chuyển hướng các đơn hàng liên quan đến các lô hàng thép cuộn cán nóng (HRC) của Indonesia và Thái Lan, theo các thành viên thị trường, một số trong đó đã được chào bán sang Bắc Phi thay thế. Indonesia, quốc gia đã trở thành nhà cung cấp cuộn cán nóng chính cho EU trong năm qua — riêng nhập khẩu trong tháng 4 đã vượt quá 200.000 tấn — chỉ được cấp hạn ngạch 31.000 tấn mỗi quý.

Một số loại thép tấm của Thổ Nhĩ Kỳ, hiện thuộc phạm vi điều chỉnh của hạn ngạch HRC và dự kiến sẽ thông quan vào mùa thu này, cũng đã được chào bán cho các khách hàng ngoài EU, một nguồn tin cho biết. Những thay đổi đối với hạn ngạch thép tấm của Thổ Nhĩ Kỳ, vốn trước đây cho phép nhập khẩu các loại tấm dày hơn theo phân loại thép tấm, cũng đã tạo ra các vấn đề cho các nhà cung cấp, đặc biệt là tại Antwerp, nơi một phần lớn vật liệu trước đây được nhập khẩu. Các loại tấm này hiện sẽ cần phải nhập khẩu theo hạn ngạch HRC, vốn đã bị cắt giảm đáng kể — dữ liệu hải quan EU hiện cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia có hạn ngạch HRC bị vượt mức cao nhất, với hơn 370.000 tấn đang chờ thông quan tính đến ngày 14 tháng 7, gấp hơn hai lần hạn ngạch thực tế là 160.000 tấn.

Đối với thép cán nguội, các thành viên thị trường báo cáo rằng một con tàu từ Brazil, quốc gia được cấp hạn ngạch 3.534 tấn mỗi quý tại EU, đang được chuyển hướng sang Vương quốc Anh.

Các thành viên tham gia thị trường cũng cho biết các điều khoản hợp đồng đã được đàm phán lại, với một số thương nhân cố gắng thuyết phục khách hàng chấp nhận một phần trách nhiệm đối với các loại thuế vượt hạn ngạch. Một thương nhân cho biết, việc chờ đợi đến quý tiếp theo để thông quan hàng hóa, một cách tiếp cận mà người mua trước đây đã thực hiện, không khả thi trong hầu hết các trường hợp do quy mô hạn ngạch của một số quốc gia bị hạn chế.

Sự gián đoạn nhập khẩu đã góp phần tạo thêm nhu cầu cho sản xuất nội địa EU, khi người mua phải lấp đầy một số lỗ hổng trong kho dự trữ của họ. Hầu hết các nhà máy EU đã nắm bắt cơ hội để tận dụng, tăng giá chào khoảng 50 euro/tấn trong tuần qua. Những mức tăng cho đến nay vẫn bị kìm hãm bởi các yếu tố theo mùa, cùng với bối cảnh kinh tế yếu kém nói chung và lượng tồn kho nhìn chung vẫn đủ.

Giá thép cuộn chính thức mất kết nối với thực tế thị trường Ả Rập Xê Út

Thị trường thép cuộn Ả Rập Xê Út đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng khi các mức giá giao dịch thực tế vẫn thấp hơn nhiều so với giá niêm yết chính thức của các nhà máy, phản ánh nhu cầu mùa hè yếu ớt và sự cạnh tranh gay gắt từ hàng nhập khẩu.

Giá thép cuộn chính thức tháng 7 từ nhà sản xuất tiêu chuẩn đang ở mức 2.850 SAR/tấn (760 USD/tấn) giao đến nơi, trong khi các nhà máy nội địa khác cũng duy trì các mức giá tương tự.

Tuy nhiên, những người tham gia thị trường cho biết các giao dịch đang diễn ra ở mức giá thấp hơn đáng kể. Một thành viên thị trường chia sẻ: "Giá chính thức là như vậy, nhưng không ai giao dịch ở mức đó cả. Các mức chiết khấu có thể rất lớn, lên tới 550 SAR/tấn (147 USD/tấn) so với giá niêm yết chính thức của nhà máy. Người mua chỉ đặt hàng dựa trên các yêu cầu dự án đã được xác nhận, trong khi các nhà máy vẫn tiếp tục cố gắng bảo vệ mức giá của họ".

Thị trường nội địa cũng đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ hàng nhập khẩu. Các nhà cung cấp Ai Cập đã giảm giá chào thép cuộn cho lô hàng tháng 7-8 xuống khoảng 620 USD/tấn (FOB), tương đương khoảng 655-660 USD/tấn (CFR Ả Rập Xê Út), so với các mức giá chỉ dẫn trước đó là khoảng 665 USD/tấn (FOB). Những người tham gia thị trường lưu ý rằng các nhà xuất khẩu đã hạ giá để phản ứng với nhu cầu khu vực yếu hơn, mặc dù các mức giá chào cạnh tranh hơn vẫn chưa tạo ra sự gia tăng đáng kể trong số lượng đơn đặt hàng.

Các nguồn tin trong ngành chỉ ra rằng sự chững lại theo mùa đang ảnh hưởng đến cả nguyên liệu nội địa và nhập khẩu. Mùa hè theo truyền thống là thời kỳ tiêu thụ yếu nhất tại Ả Rập Xê Út, khiến người mua trì hoãn việc mua hàng bất cứ khi nào có thể và hạn chế hoạt động trên thị trường giao ngay bất chấp giá nhập khẩu thấp hơn. Mặc dù thép cuộn nhập khẩu ngày càng trở nên cạnh tranh về giá, nhưng các mức giá chào thấp hơn đã không có nhiều tác dụng trong việc kích thích nhu cầu, càng làm trầm trọng thêm áp lực về giá trên toàn thị trường.

Những người tham gia thị trường kỳ vọng khoảng cách giữa giá niêm yết chính thức của nhà máy và mức giao dịch thực tế sẽ vẫn còn lớn cho đến khi hoạt động xây dựng cải thiện sau giai đoạn mùa hè.

Tất cả các mức giá chưa bao gồm 15% thuế VAT. Tỷ giá hối đoái là 1 USD = 3,75 SAR.

Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc tăng vọt trong tháng 6 bất chấp sản lượng thép sụt giảm

Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc đã tăng vọt trong tháng 6, phục hồi đáng kể sau khi giảm vào tháng 5, trong khi tổng lượng quặng cập cảng trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 6, Trung Quốc đã nhập khẩu 112,69 triệu tấn quặng sắt, tăng 15,3% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan (GACC) được công bố vào ngày 14 tháng 7. Trong nửa đầu năm 2026, tổng lượng nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc đạt 628,87 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Động lực ổn định này nối tiếp đà tăng trưởng 6,3% so với cùng kỳ trong giai đoạn tháng 1-5 và mức mở rộng 8% ghi nhận trong bốn tháng đầu năm.

Sự gia tăng liên tục của nhập khẩu quặng sắt trong bối cảnh sản xuất thép nội địa thu hẹp vẫn tiếp diễn xu hướng được thiết lập từ năm ngoái, khi Trung Quốc đạt khối lượng nhập khẩu cao kỷ lục cùng với sản lượng thép thô ở mức thấp nhất trong bảy năm. Các thành viên tham gia thị trường chỉ ra sự kết hợp giữa việc nhập khẩu mang tính chiến lược, các hợp đồng dài hạn cứng nhắc, chất lượng quặng suy giảm và nguồn cung toàn cầu dồi dào là những động lực chính dẫn đến sự phân kỳ này. Một thương nhân Trung Quốc chia sẻ khi giải thích lý do tại sao khối lượng quặng đang chồng chất tại các cảng: "Các nhà nhập khẩu phải liên tục tiếp nhận các chuyến hàng theo các thỏa thuận dài hạn bất chấp nhu cầu thực tế, ngay cả khi vật liệu không thể tiêu thụ ngay lập tức". Thương nhân này nói thêm: "Việc xây dựng kho dự trữ quặng loại trung bình cũng là một bước đệm chiến lược trong bối cảnh bất ổn địa chính trị hiện nay, tương tự như những gì chúng ta thấy ở các thị trường khu vực như Nhật Bản và Đài Loan, nơi sản lượng thép giảm trong khi lượng quặng nhập vào vẫn ở mức cao".

Hơn nữa, các nguồn tin thị trường nhấn mạnh rằng chất lượng quặng sắt suy giảm từ nước ngoài buộc các nhà máy Trung Quốc phải nhập khẩu khối lượng vật chất lớn hơn để đạt được hiệu suất gang mong muốn, trong khi hoạt động khai thác nội địa tại Trung Quốc đang thu hẹp. Theo Cục Thống kê Quốc gia, sản lượng quặng sắt nội địa giảm 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong giai đoạn tháng 1-5/2026 xuống còn 397,11 triệu tấn, với sản lượng tháng 5 giảm 14,5% so với cùng kỳ xuống còn 74,17 triệu tấn.

Tồn kho cao tại các nhà khai thác mỏ toàn cầu và các thương nhân quốc tế đã tiếp tục đẩy lượng vật liệu dư thừa về phía các cảng Trung Quốc.

Bất chấp số liệu nhập khẩu mạnh mẽ, nhu cầu thép nội địa yếu vẫn tiếp tục tạo ra sự mất cân bằng rõ rệt tại thị trường thực tế. "Nhu cầu nội địa Trung Quốc hiện đang rất yếu và tình trạng dư cung quặng sắt ngày càng trở nên rõ ràng", một thương nhân địa phương khác bình luận. Mức tiêu thụ thép hạ nguồn trì trệ và khả năng sinh lời thấp của các nhà sản xuất thép dự kiến sẽ giữ tồn kho tại cảng ở mức cao trong những tháng tới.

Nhập khẩu thép nửa đầu năm của Việt Nam tăng nhờ nguồn cung từ Ấn Độ mạnh lên

Nhập khẩu thép của Việt Nam tăng trong nửa đầu năm 2026 chủ yếu do sự gia tăng đột biến các lô hàng từ Ấn Độ, đồng thời được hỗ trợ bởi dòng chảy mạnh mẽ hơn từ một số nhà cung cấp trong khu vực khác, bất chấp sự sụt giảm khối lượng từ các nhà xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong nửa đầu năm (H1), cả nước đã nhập khẩu 7,77 triệu tấn sản phẩm thép, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, theo Tổng cục Hải quan. Sự tăng trưởng chung này chủ yếu được thúc đẩy bởi Ấn Độ, với lượng hàng xuất khẩu tăng vọt lên 779.665 tấn từ mức chỉ 7.775 tấn trong giai đoạn tháng 1-6/2025. Sự gia tăng mạnh mẽ nhập khẩu từ Ấn Độ phản ánh sự kết hợp giữa mức giá hấp dẫn và dòng chảy thương mại thay đổi. Các nhà cung cấp Ấn Độ đã chuyển trọng tâm sang Việt Nam sau khi thị trường EU trở nên kém hấp dẫn hơn kể từ khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được áp dụng vào tháng 1/2026, trong khi xuất khẩu sang Trung Đông bị ảnh hưởng bởi căng thẳng khu vực. Bên cạnh đó, nguồn cung vào Việt Nam cũng tăng từ Hàn Quốc (+9,2%), Đài Loan (+21,3%) và Indonesia (+13,4%) so với cùng kỳ năm ngoái.

Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng đầu trong H1, nhưng lượng hàng xuất khẩu của nước này đã giảm 13,8% so với cùng kỳ, làm giảm tỷ trọng trong tổng lượng nhập khẩu thép của Việt Nam xuống còn 49,1% so với mức 58,5% một năm trước đó. Theo ghi nhận của Metal Expert, sự sụt giảm này chủ yếu do các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam đối với thép HRC Trung Quốc.

Lượng hàng từ Nhật Bản giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước, do các nhà xuất khẩu Nhật Bản mất khả năng cạnh tranh trong bối cảnh chi phí nguyên liệu thô tăng cao, thúc đẩy các nhà nhập khẩu Việt Nam chuyển sang các nhà cung cấp khác trong khu vực.

Việt Nam: Nhập khẩu thép (nghìn tấn)

Nhà cung cấp

H1 2026

H1 2025

Tăng trưởng (%)

Trung Quốc

3.819

4.428

-13,8

Nhật Bản

961

1.207

-20,4

Ấn Độ

780

8

Tăng 98 lần

Hàn Quốc

771

706

+9,2

Indonesia

760

670

+13,4

Đài Loan

513

423

+21,3

Khác

169

131

+29

Tổng

7.773

7.573

+2,8

Nguồn: Tổng cục Hải quan, Việt Nam

Quặng sắt vượt mốc 100 USD/tấn lần đầu tiên sau gần một tháng

Giá quặng sắt đã tăng hôm 14/7, được hỗ trợ bởi sự phục hồi trên thị trường kỳ hạn, hoạt động mua hàng tại cảng mạnh mẽ hơn ở Trung Quốc và sự sụt giảm mạnh hàng tuần về khối lượng vận chuyển từ Úc và Brazil, trong khi nhu cầu thép theo mùa yếu vẫn tiếp tục hạn chế sự lạc quan của thị trường.

Theo dữ liệu, quặng sắt mịn Úc hàm lượng 62% Fe đã tăng 1,5 USD/tấn lên mức 100,5 USD/tấn (CFR), quay trở lại trên ngưỡng 100 USD/tấn (CFR) lần đầu tiên kể từ ngày 16 tháng 6. Giá nguyên liệu thô tương lai đã tăng 2,4 USD/tấn trên sàn DCE và 1,6 USD/tấn trên sàn SGX trong ngày.

Thị trường quặng sắt vật chất đã theo đà tăng của thị trường kỳ hạn, vốn được thúc đẩy chủ yếu bởi sự phục hồi kỹ thuật sau đợt giảm mạnh hôm thứ Hai khi các nhà đầu tư đóng các vị thế bán khống và chốt lời, theo các nguồn tin nội bộ cho biết.

Ngoài ra, hoạt động mua sắm đã tăng cường so với ngày 13 tháng 7 khi khối lượng giao dịch tại các cảng Trung Quốc tăng đáng kể, mặc dù nhu cầu đối với các lô hàng vận chuyển đường biển vẫn còn trầm lắng.

Tâm lý thị trường cũng được hỗ trợ bởi sự sụt giảm nguồn cung trong ngắn hạn từ các quốc gia xuất khẩu lớn. Theo Mysteel, các chuyến hàng quặng sắt từ 20 cảng và 17 công ty khai thác mỏ tại Úc và Brazil đã giảm mạnh 21,3% so với tuần trước, xuống còn 21,5 triệu tấn trong giai đoạn từ ngày 6-12 tháng 7. Lượng hàng xuất đi giảm từ cả hai quốc gia sau một đợt phục hồi ngắn trong tuần trước đó, làm giảm bớt những lo ngại về áp lực nguồn cung tức thời.

Đồng thời, dữ liệu hải quan mới nhất của Trung Quốc cho thấy nhu cầu cao hơn đối với nguyên liệu thô này trong tháng 6. Quốc gia này đã nhập khẩu 112,69 triệu tấn quặng sắt trong tháng trước, tăng 15,3% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan được công bố vào ngày 14 tháng 7. Nhập khẩu trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 đạt 628,87 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, tính bền vững của đà phục hồi giá vẫn còn không chắc chắn, do nhu cầu thép theo mùa tại Trung Quốc vẫn còn yếu. Điều này tiếp tục hạn chế những kỳ vọng về tiêu thụ quặng sắt mạnh mẽ hơn từ phía các nhà máy và khiến người mua thận trọng, đặc biệt là trên thị trường đường biển.

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) Ấn Độ sụt giảm do nhu cầu nội địa yếu và sự không chắc chắn trong xuất khẩu

Các nhà sản xuất thép Ấn Độ đã giảm giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa trong bối cảnh nhu cầu suy yếu, lượng tồn kho ở mức thoải mái và sự không chắc chắn ngày càng tăng đối với hoạt động xuất khẩu.

Trong tuần này, giá chào HRC nội địa từ các nhà máy lớn được ghi nhận trong khoảng 55.000-57.000 INR/tấn (572-592 USD/tấn) tại kho Mumbai, giảm so với mức 58.000-61.000 INR/tấn (603-634 USD/tấn) tại kho Mumbai vào đầu tháng 6. Các nhà phân phối liên kết với nhà máy được cho là đang chào bán vật liệu ở mức 57.000-57.500 INR/tấn (592-598 USD/tấn) tại kho Mumbai, trong khi một số thành viên tham gia thị trường chỉ ra rằng NMDC Steel đang chào bán HRC ở mức khoảng 54.500 INR/tấn (567 USD/tấn) giao đến nơi.

Các thành viên tham gia thị trường cho rằng sự sụt giảm giá là do sự kết hợp của các yếu tố theo mùa và đặc thù của thị trường, vốn đã chuyển quyền thương lượng sang phía người mua. Sự khởi đầu của mùa mưa đã làm chậm tốc độ tiêu thụ thép, trong khi các nhà phân phối bước vào tháng 7 với mức tồn kho thoải mái, làm hạn chế nhu cầu mua hàng mới.

Triển vọng xuất khẩu cũng trở nên khó khăn hơn. Các thông báo gần đây về việc sửa đổi hạn ngạch tự vệ tại EU và Vương quốc Anh đã làm gia tăng sự không chắc chắn đối với xuất khẩu thép của Ấn Độ, thúc đẩy các nhà máy tìm kiếm các điểm đến thay thế ở nước ngoài cho cả các sản phẩm thép dẹt và phôi thép. "Ấn Độ hiện cần thúc đẩy xuất khẩu để giảm bớt áp lực lên thị trường nội địa. Những điều chỉnh này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung toàn cầu", một thương nhân châu Á cho biết.

Trong khi đó, nhập khẩu thép của Ấn Độ đã tăng vọt trong quý 1, ảnh hưởng đến khối lượng cung nội địa. Trong giai đoạn tháng 4-6, nhập khẩu thép thành phẩm đã tăng 49% so với cùng kỳ năm trước lên 2,06 triệu tấn. Các nhà cung cấp châu Á tiếp tục thống trị thị trường nhập khẩu Ấn Độ, chiếm 90,6% tổng lượng nhập khẩu thép thành phẩm. Các quốc gia cung cấp bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan và Indonesia.