Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thế giới ngày 16/09/2026

Thép dài Châu Á - Thái Bình Dương: Thép cây Trung Quốc nhích nhẹ

Giá thép cây nội địa Trung Quốc ngày thứ Ba (15/9) đã nhích lên, phục hồi nhẹ sau đợt sụt giảm nhẹ vào ngày hôm qua.

Thép cây

Vào ngày 15 tháng 9, giá thép cây giao kho tại Thượng Hải đã tăng 10 nhân dân tệ/tấn (1,49 đô la Mỹ/tấn) lên mức 3.110 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng tương lai thép cây kỳ hạn tháng 1 tăng 13 nhân dân tệ/tấn lên mức tương đương.

Các áp lực chính đối với thị trường thép xây dựng vẫn là hỗ trợ về chi phí và nhu cầu yếu. Tình trạng thua lỗ kéo dài tại các nhà máy thép đã duy trì sản lượng thép cây ở mức tương đối thấp trong những năm gần đây. Các thành viên thị trường nhìn chung đánh giá mức giá xoay quanh 3.100 nhân dân tệ/tấn là hợp lý, với rủi ro giảm giá là hạn chế. Tuy nhiên, đà tăng giá cũng được dự báo là sẽ vẫn yếu do đầu tư bất động sản sụt giảm và môi trường kinh tế vĩ mô ảm đạm tại Trung Quốc.

Dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho thấy đầu tư bất động sản trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 8 đã giảm gần 1/5 so với cùng kỳ năm ngoái. Các thành viên thị trường kỳ vọng giá thép cây Trung Quốc sẽ dao động trong một biên độ hẹp trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh bắt đầu từ ngày 1 tháng 10.

Đánh giá thép cây fob Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 đô la Mỹ/tấn theo cơ sở trọng lượng lý thuyết. Một nhà máy lớn ở miền bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu thép cây B500B thêm 3 đô la Mỹ/tấn so với ngày hôm qua, xuống còn 482 đô la Mỹ/tấn fob trọng lượng lý thuyết trong ngày hôm nay. Một người mua ở Đông Nam Á cho biết hầu hết các nhà máy Trung Quốc đang bán thép cây trong tình trạng thua lỗ, để lại ít dư địa cho việc đàm phán giá.

Thép cuộn dây  và phôi thép

Đánh giá của cuộn dây fob Trung Quốc giảm 2 đô la Mỹ/tấn xuống còn 500 đô la Mỹ/tấn fob. Một nhà máy ở miền bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu thép cuộn dây từ 1-3 đô la Mỹ/tấn so với ngày hôm trước, xuống còn 497-502 đô la Mỹ/tấn fob đối với mác chất lượng dùng làm lưới thép. Một nhà máy Indonesia giữ nguyên giá chào thép cuộn dây ở mức 510 đô la Mỹ/tấn fob cho chuyến hàng giao tháng 12 trong ngày thứ Ba.

Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn tăng 10 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.000 nhân dân tệ/tấn. Một nhà máy Indonesia đã giảm giá chào xuất khẩu phôi thép 5 đô la Mỹ/tấn xuống còn 480 đô la Mỹ/tấn fob cho chuyến hàng giao tháng 12. Một nhà máy ở miền bắc Trung Quốc đã giảm giá chào phôi thép mác cơ bản 5 đô la Mỹ/tấn so với tuần trước, xuống còn 475 đô la Mỹ/tấn fob cho chuyến hàng giao tháng 11. Các thương nhân Trung Quốc đã hạ giá chào phôi thép xuống mức 467-470 đô la Mỹ/tấn fob sau khi giá phôi thép nội địa giảm 5-6 đô la Mỹ/tấn trong tuần. Các thành viên thị trường cho biết mục tiêu giá mua của người mua nằm dưới mức 465 đô la Mỹ/tấn fob trong bối cảnh tâm lý thị trường lung lay.

Tóm tắt hoạt động thị trường

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào phôi thép 3sp ở mức 480 đô la Mỹ/tấn fob Indonesia

Phôi thép - ASEAN: Nhà máy miền bắc Trung Quốc báo cáo giá chào phôi thép 3sp ở mức 475 đô la Mỹ/tấn fob miền bắc Trung Quốc

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo giá chào phôi thép 3sp ở mức 467 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức giá chỉ báo cho phôi thép 3sp ở mức 465 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại miền đông Trung Quốc báo cáo giá chào phôi thép 3sp ở mức 470 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Thép cuộn dây - Trung Quốc: Công ty thương mại miền đông Trung Quốc báo cáo giá chào thép cuộn dây SAE1008 ở mức 502 đô la Mỹ/tấn fob miền bắc Trung Quốc

Thép cuộn dây - Trung Quốc: Công ty thương mại miền đông Trung Quốc báo cáo mức giá chỉ báo cho thép cuộn dây SAE1008 ở mức 497 đô la Mỹ/tấn fob miền bắc Trung Quốc

Thép cuộn dây - ASEAN: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào thép cuộn dây SAE1008 ở mức 510 đô la Mỹ/tấn fob Indonesia

Thép dẹt Châu Á - Thái Bình Dương: Người mua thận trọng do lo ngại về nhu cầu

Giá thép dẹt nội địa và xuất khẩu của Trung Quốc tiếp tục sụt giảm vào thứ Ba do hoạt động chậm lại, nguyên nhân từ sự thận trọng ngày càng tăng của người mua do lo ngại về sức mạnh của nhu cầu.

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) chủ đạo giao kho tại Thượng Hải đã giảm 10 nhân dân tệ/tấn (1,49 đô la Mỹ/tấn) xuống mức 3.320 nhân dân tệ/tấn vào thứ Ba.

Các thành viên thị trường cho biết, một số người bán đã giảm giá 10 nhân dân tệ/tấn xuống còn 3.320 nhân dân tệ/tấn để thu hút đơn hàng, nhưng người mua chỉ hạn chế mua ở mức đáp ứng nhu cầu tức thời.

Các thành viên thị trường bày tỏ lo ngại về mức độ nhu cầu tích trữ hàng từ các ngành hạ nguồn trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh kéo dài bảy ngày của Trung Quốc bắt đầu từ ngày 1 tháng 01. Các công ty thương mại cho biết nếu hoạt động tích trữ không đạt kỳ vọng của thị trường, thị trường thép cuộn nội địa Trung Quốc sẽ chịu thêm áp lực.

Các thành viên thị trường cho biết các nhà sản xuất thép cần giảm sản lượng HRC để cân bằng cung và cầu. Các nguồn tin thị trường cho biết các nhà máy thép Trung Quốc hiện đang gánh khoản lỗ 250-300 nhân dân tệ/tấn đối với HRC, tình trạng này chỉ có thể được giải quyết thông qua việc cắt giảm sản lượng. Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc đã đưa ra lời kêu gọi vào cuối ngày thứ Ba yêu cầu các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng.

Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải giảm 0,09% so với giá thanh toán của phiên giao dịch trước đó, xuống mức 3.309 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 9.

Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 1 đô la Mỹ/tấn xuống còn 496 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc.

Các công ty thương mại cho biết, một nhà máy ở miền bắc Trung Quốc trong tuần này đã hạ giá chào xuất khẩu HRC mác SS400 thêm 5 đô la Mỹ/tấn so với tuần trước, xuống còn 510 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc, và một số mức chiết khấu có thể được áp dụng tùy thuộc vào các giá thầu chắc chắn. Giá chào từ các nhà máy thép tư nhân ở mức 496-497 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc đối với HRC mác Q235. Nhu cầu vận tải biển vẫn trầm lắng với rất ít sự quan tâm mua sắm được ghi nhận. Triển vọng thị trường không chắc chắn đã khuyến khích người mua chần chừ không mua hàng.

Giá HRC tại ASEAN tăng 1 đô la Mỹ/tấn lên mức 536 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam do các mức giá giao dịch cao hơn.

Một giao dịch HRC mác SAE1006 có xuất xứ từ Indonesia đã được chốt ở mức 536 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam trong tuần này, so với các mức giá chào ở mức 535-540 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam. HRC xuất xứ từ Ấn Độ được chào ở mức 545 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam trở lên, thu hút rất ít sự quan tâm mua sắm vì mức giá này cao hơn nhiều so với mục tiêu 530-535 đô la Mỹ/tấn cfr của người mua.

Tóm tắt hoạt động thị trường

HRC - Trung Quốc: Nhà máy Việt Nam báo cáo giá chào HRC mác SS400 ở mức 510 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào HRC mác SS400 ở mức 510 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào HRC mác Q235 ở mức 496 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HRS - Trung Quốc: Nhà máy Việt Nam báo cáo giá chào HRS mác Q235 ở mức 547 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại miền nam Trung Quốc báo cáo giá chào HRC mác Q235 ở mức 505 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại miền nam Trung Quốc báo cáo giá chào HRC mác Q235 ở mức 497 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HRC - ASEAN: Công ty thương mại miền bắc Trung Quốc báo cáo mức giá chỉ báo cho mác SAE1006 xuất xứ bất kỳ ở mức 535 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

HRC - ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo giá chào mác SAE1006 xuất xứ Indonesia ở mức 537,50 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

HRC - ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo giá chào mác SAE1006 xuất xứ Ấn Độ ở mức 545 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

HRC - ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo giao dịch mác SAE1006 xuất xứ Indonesia ở mức 536 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

Thép cuộn cán nguội (CRC) - Trung Quốc: Nhà máy Việt Nam báo cáo giá chào CRC mác SPCC ở mức 585 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

CRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào CRC mác SPCC ở mức 570 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

CRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào CRC mác SPCC ở mức 565 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

CRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào CRC mác SPCC ở mức 560 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào HDG mác SGCC ở mức 618 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HDG - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào HDG mác SGCC ở mức 566 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HDG - Trung Quốc: Công ty thương mại miền nam Trung Quốc báo cáo giá chào HDG mác SGCC ở mức 560 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

HDG - Trung Quốc: Công ty thương mại miền nam Trung Quốc báo cáo giá chào HDG mác SGCC ở mức 555 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Thép tấm (Plate) - Trung Quốc: Nhà máy Việt Nam báo cáo giá chào thép tấm mác SS400 ở mức 565 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Thép tấm (Plate) - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kong báo cáo giá chào thép tấm mác SS400 ở mức 560 đô la Mỹ/tấn fob Trung Quốc

Thép tấm (Plate) - Trung Quốc: Nhà máy Việt Nam báo cáo giá chào thép tấm mác Q355 ở mức 580 đô la Mỹ/tấn cfr Việt Nam

HRC tại EU: Giá duy trì ổn định

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại EU duy trì vững chắc trong ngày thứ Ba (15/9), được củng cố bởi tình trạng thắt chặt nguồn cung đang diễn ra, nhưng bị kìm hãm bởi tốc độ tiêu thụ hàng tồn kho chậm của các trung tâm dịch vụ thép và nhu cầu từ người dùng cuối còn ảm đạm.

Chỉ số HRC giao dịch hằng ngày tại Tây Bắc EU giữ ở mức 735,50 euro/tấn xuất xưởng (ex-works) và chỉ số tại Ý ở mức 737 euro/tấn xuất xưởng. Đánh giá giá giao theo điều kiện cif Ý (hai lần một tuần) ổn định ở mức 590 euro/tấn.

Một giao dịch với khối lượng 1.500 tấn được báo cáo đã chốt ở mức tương đương 750 euro/tấn xuất xưởng khu vực Tây Bắc Châu Âu cho lô hàng giao tháng 11. Một trung tâm dịch vụ thép kỳ vọng có thể đàm phán các mức giá chào từ 790 euro/tấn cơ sở giao đến Tây Ban Nha xuống mức 750 euro/tấn, mức mà họ cho là khả thi hơn.

Một thương nhân cho biết không có sự thay đổi nào đối với giá tại Ý trong tuần này. Một người mua cho biết nhu cầu từ người dùng cuối vẫn kém, nhưng các nhà máy tìm kiếm mức giá trên 740 euro/tấn cơ sở giao đến Ý, mức giá mà họ không sẵn lòng mua.

Thị trường đang tìm kiếm sự rõ ràng liên quan đến thông tin cho rằng các hạn ngạch thép của Ấn Độ tại Châu Âu có thể bị cắt giảm. Ngay cả các nhà cung cấp cũng không rõ liệu, như các tài liệu của EU cho thấy, hạn ngạch HRC sẽ bị giảm tương đương khoảng 15% mỗi quý. Điều này sẽ là một đòn giáng mạnh mẽ tiếp theo đối với các nhà nhập khẩu, những người đang phải chật vật tìm kiếm nguồn cung bên ngoài EU mà họ có thể thông quan mà không làm gia tăng thêm chi phí và rủi ro.

Một diễn biến khác, các thành viên thị trường dự kiến Acciaierie d'Italia sẽ buộc phải dừng sản xuất thép thô trong tuần này. Điều này có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng thắt chặt nguồn cung trong khối.

Phôi thép toàn cầu: Giao dịch tạm lắng

Giao dịch phôi thép vận tải đường biển toàn cầu rất mỏng trong tuần qua và nhìn chung đã duy trì tình trạng này trong suốt tháng qua, do các mức giá chào từ Trung Quốc dịch chuyển sang các ngày giao hàng xa hơn và người mua Thổ Nhĩ Kỳ ngồi chờ sau một lượng lớn các giao dịch được thực hiện trong tháng 8.

Đánh giá phôi thép theo điều kiện cfr Thổ Nhĩ Kỳ hằng tuần ổn định ở mức 515 đô la Mỹ/tấn trong ngày 15/9 với rất ít biến động về các mức giá chào mua và chào bán trong bối cảnh không có giao dịch.

Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ đã mua khoảng 300.000 tấn phôi thép giao hàng vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 từ các nhà cung cấp Châu Á trong tháng 8, với mức giá dao động trong khoảng 495-515 đô la Mỹ/tấn cfr. Nguồn cung Biển Đen từ Nga vẫn vắng bóng đối với người mua Thổ Nhĩ Kỳ, do đó nguồn cung vẫn bị thắt chặt, nhưng người mua Thổ Nhĩ Kỳ khó có khả năng cam kết với các lô hàng giao tháng 11 hiện đang được chào bán từ Trung Quốc và Đông Nam Á vào thời điểm này.

Các nhà cung cấp Nga lưu ý rằng việc định tuyến lại các lô hàng phôi thép từ Biển Đen đến các cảng biển Ban-tích là một nhiệm vụ đầy thách thức và vẫn còn rất ít dấu hiệu cho thấy các mức giá chào mới sẽ xuất hiện trong tương lai gần. Tuy nhiên, các nhà cung cấp đã ra dấu hiệu rằng họ sẽ giao các lô hàng đã được đặt chỗ vào tháng 7 với giá 490 đô la Mỹ/tấn cfr, với tổng khối lượng ít nhất là 40.000-60.000 tấn, vì vậy người mua Thổ Nhĩ Kỳ có khả năng sẽ chờ đợi các thông tin cập nhật tiếp theo từ khu vực Ban-tích trước khi thực hiện các đơn đặt chỗ mới từ Châu Á.

Đánh giá phôi thép fob Biển Đen giữ nguyên ở mức 460 đô la Mỹ/tấn fob, không có giao dịch nào khả thi.

Các mức giá chào từ Trung Quốc được ghi nhận tương đối ổn định trong tuần ở mức 520-525 đô la Mỹ/tấn cfr Thổ Nhĩ Kỳ trong ngày hôm nay, sau khi đã tăng rồi lại giảm trong giai đoạn giữa do giá than cốc yếu gây sức ép lên thị trường thép. Trên cơ sở fob, các nhà cung cấp Trung Quốc chào giá 467-470 đô la Mỹ/tấn fob trong ngày hôm nay, trong khi người mua Đông Nam Á đang hỏi mua hàng và đặt giá thầu ở mức 450-460 đô la Mỹ/tấn fob cho các lô hàng giao tháng 11.

Các thương nhân tìm cách cung cấp phôi thép cho khu vực GCC báo cáo rằng họ đã đánh mất các giao dịch vốn sắp được chốt vào tuần trước sau khi lực lượng nổi dậy Houthi ở Yemen chiếm thêm lãnh thổ trên bờ biển Biển Đỏ, khi các chủ tàu bắt đầu từ chối tiếp cận một số cảng. Các cuộc xung đột trong khu vực đã cản trở khả năng tiếp cận một số cảng và gây ra tình trạng ùn tắc nghiêm trọng tại các cảng khác, tạo ra một trở ngại lớn cho hoạt động thương mại trong những tháng gần đây, bất chấp nhu cầu vật liệu rất mạnh mẽ. Tình trạng thực tế rất khác nhau tùy thuộc vào từng cảng, một thương nhân cho biết và nói thêm rằng một số lô hàng được đặt vào tháng 3 vẫn đang chờ cập cảng trong khi những người mua khác đã nhận được các lô hàng đặt gần đây.

Tại thị trường nội địa Thổ Nhĩ Kỳ, giá phôi thép đã tăng theo đà của thị trường thép cây, trong khi người mua cũng đang chờ đợi một nhà máy liên hợp lớn ở Karabuk nối lại hoạt động bán phôi thép.

Đánh giá phôi thép nội địa Thổ Nhĩ Kỳ hằng tuần đã tăng 10 đô la Mỹ/tấn lên mức 560 đô la Mỹ/tấn xuất xưởng.

HRC tại Mỹ: Người mua tìm cách mở rộng các lựa chọn nguồn cung

Những người mua thép cuộn cán nóng (HRC) tại Mỹ trong tháng 9 đang ngày càng hướng tới các thị trường nước ngoài và các trung tâm dịch vụ thép bạn hàng để bù đắp cho việc thiếu tính thanh khoản giao ngay từ các nhà máy trong nước, vốn vẫn đang chậm tiến độ đơn hàng khi đợt bảo trì mùa thu kéo dài bốn tháng bắt đầu khởi động.

Giá giao ngay HRC xuất xưởng tại Mỹ đã tăng lên mức 1.241,75 đô la Mỹ/tấn ngắn (st), tăng 8,25 đô la Mỹ/tấn ngắn so với tuần trước. Thời gian giao hàng tăng lên 7,9 tuần, từ mức 7,5 tuần trước đó.

Mức giá này được tính toán dựa trên 5.160 tấn ngắn phân bổ qua 15 giao dịch.

Người mua tại Mỹ đang khao khát nguồn cung giao ngay mặc dù nhu cầu không có sự thay đổi mang tính nền tảng. Nhiều người mua trong tuần này báo cáo nhu cầu hoặc ổn định so với năm ngoái hoặc đang tăng trưởng ở mức độ có thể quản lý được, nằm trong kỳ vọng từ trước trong năm. Tuy nhiên, các nhà máy đã chậm tiến độ giao hàng theo hợp đồng trong nhiều tháng, điều này đã đẩy nhiều người mua phải tìm kiếm nguồn cung giao ngay chỉ để lấp đầy các khoảng trống trong kế hoạch nhu cầu của họ.

Một số người mua cho biết giá nhập khẩu và thời gian giao hàng không quá hấp dẫn, với mức tiết kiệm tối thiểu so với giá nội địa, nhưng tệ nhất thì chúng cũng tương đương với các nguồn cung nội địa trên cả hai mặt trận. Việc đặt đơn hàng cho thép nước ngoài vẫn hợp lý đối với những người mua này nhằm đảm bảo họ có nguồn cung đáng tin cậy trong những tháng tới.

Giá nhập khẩu HRC tại Mỹ ổn định ở mức 1.040 đô la Mỹ/tấn ddp Houston, mặc dù một số người mua báo cáo mức giá cao hơn cho các lô hàng giao trong tương lai.

Chi phí đang dần trở thành mối quan tâm thứ yếu trong công cuộc tìm kiếm khối lượng HRC, với một số người mua thậm chí chuyển sang các trung tâm dịch vụ thép khác còn lượng hàng tồn kho khiêmêm tốn để nhường lại và chấp nhận trả thêm hàng trăm đô la Mỹ mỗi tấn so với mức giá chào của nhà máy.

Mức giá cao đối với hàng nhập khẩu hoặc hàng tồn kho của trung tâm dịch vụ không còn ý nghĩa nhiều khi người mua phải đối mặt với nguy cơ mất đi các cơ hội kinh doanh tiềm năng nếu không có sẵn thép trong tay. Một nhà phân phối trong tuần này cho biết khách hàng hạ nguồn lo sợ sẽ phải tạm thời đóng cửa các dây chuyền, cắt giảm ca làm việc hoặc thậm chí sa thải nhân công nếu không có thêm lượng thép đổ vào các nhà máy của họ.

Hầu hết các trung tâm dịch vụ đều sẵn sàng trả chi phí cao hơn để đưa thép về trong môi trường như vậy, với kỳ vọng sẽ chuyển phần chi phí này sang cho những người mua đang khao khát được vận hành nhà máy.

Thép tấm (Plate)

Những người mua thép tấm tại Mỹ cũng chịu chung cảnh thiếu hụt nguồn cung giống như những người mua thép cuộn cán nóng (HRC), tạo cho các nhà máy dư địa để củng cố một mức sàn giá vững chắc trong những ngày gần đây.

Giá thép tấm nội địa Mỹ ổn định ở mức 1.400 đô la Mỹ/tấn ngắn (st) xuất xưởng và 1.430 đô la Mỹ/tấn ngắn giao đến, với thời gian giao hàng nhìn chung giữ vững ở mức 12 tuần. Một số người mua có thể tìm được nguồn thép tấm với thời gian giao hàng ngắn hơn, nhưng đây vẫn là trường hợp hiếm hoi khi hầu hết các nhà máy đều từ chối người mua.

Một số nhà máy không báo giá bán giao ngay cho phần còn lại của năm, và sự lo lắng của người mua đang gia tăng đối với các mối lo ngại về khả năng cung ứng cho các hợp đồng của năm 2027. Một người mua cho biết các đối tác quy mô nhỏ hơn lo lắng rằng hoạt động kinh doanh của họ sẽ là đối tượng đầu tiên bị cắt giảm nếu các nhà máy bắt đầu hạn chế các cam kết hợp đồng vào năm tới.

Thép HDG/CRC tại Mỹ: Người mua chật vật tìm kiếm nguồn cung giao ngay

Những người mua thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) và thép cuộn cán nguội (CRC) tại Mỹ tiếp tục tìm kiếm nguồn cung giao ngay trong tuần này, nhưng những giới hạn từ các nhà máy trong nước đã hoặc đẩy một số khách hàng ra ngoài lề hoặc đẩy họ gia nhập thị trường nhập khẩu.

Giá giao ngay HDG cán nóng xuất xưởng được đánh giá ở mức 1.462 đô la Mỹ/tấn ngắn (st), hầu như đi ngang so với tuần trước. Giá dựa trên bảy giao dịch với tổng khối lượng 956 tấn ngắn.

Thời gian giao hàng ổn định ở mức 9,2 tuần, không thay đổi so với tuần trước.

Giá giao ngay HDG cán nguội xuất xưởng được đánh giá ở mức 1.471,75 đô la Mỹ/tấn ngắn, tăng 11,50 đô la Mỹ/tấn ngắn so với tuần trước. Giá dựa trên 29 giao dịch với tổng khối lượng 7.478 tấn ngắn.

Thời gian giao hàng tăng lên 10,2 tuần từ mức 9,2 tuần trước đó.

Khối lượng lớn trọng lượng HDG cán nguội được chia tách giữa sự kết hợp của các đơn hàng lớn và đơn hàng nhỏ, nhưng phần lớn các giao dịch có khối lượng dưới 400 tấn ngắn. Các giao dịch cũng được phân bổ giữa một số ít các nhà máy, có nghĩa là mỗi nhà máy riêng lẻ chỉ có đủ khối lượng giao ngay để nhường lại cho tối đa một tá đơn hàng trước khi cạn kiệt. Người mua cho biết một số nhà máy hoàn toàn không báo giá các tấn hàng giao ngay.

Một số người mua HDG tại Mỹ báo cáo nhu cầu khá mạnh mẽ, nhưng nằm trong kỳ vọng cho cả năm. Tuy nhiên, người mua đã chật vật trong việc duy trì nguồn cung luân chuyển từ các nhà máy đến khách hàng của họ một cách nhất quán, với lượng đơn hàng tồn đọng làm trầm trọng thêm nhu cầu lành mạnh thành một cuộc khủng hoảng nguồn cung mang tính thực tế.

Giá nhập khẩu HDG cán nguội ổn định trong tuần này ở mức 1.440 đô la Mỹ/tấn ddp Houston.

Đánh giá giá CRC xuất xưởng tại Mỹ ở mức 1.455,75 đô la Mỹ/tấn ngắn, tăng 29,50 đô la Mỹ/tấn ngắn so với tuần trước. Giá dựa trên chín giao dịch với tổng khối lượng 752 tấn ngắn.

Thời gian giao hàng tăng lên 11,5 tuần từ mức 9,4 tuần trước đó.

Một số người mua CRC báo cáo đang xem xét hàng nhập khẩu, chủ yếu từ Châu Á, nhằm củng cố lượng hàng tồn kho không đủ dùng. Chính quyền Trump đã dành phần lớn trong năm rưỡi qua để thắt chặt các quy tắc đối với việc nhập khẩu thép giá trị gia tăng như CRC hoặc HDG, từ việc tăng thuế quan cho đến thực thi các phán quyết chống bán phá giá. Tuy nhiên, mạng lưới các rào cản và chi phí bổ sung này đang dần trở thành yếu tố ít mang tính răn đe hơn đối với người mua, khi họ phải đối mặt với viễn cảnh không có thép từ các nhà máy trong nước.

Lượng đơn hàng tồn đọng tiếp tục cản trở những nỗ lực của các nhà máy Mỹ nhằm tái gia nhập thị trường giao ngay CRC và HDG theo cách thức có ý nghĩa hơn.

Các vấn đề về nguồn cung phôi dẹt (slab) cũng hạn chế khả năng cán nguyên liệu đầu vào CRC và thép cuộn cán nóng (HRC) của một số nhà máy, vốn được chuyển đổi thành HDG như một sản phẩm giá trị gia tăng. Một số nhà nhập khẩu Mỹ cho biết phôi dẹt thép Brazil, trước đây là nguồn cung cấp phôi dẹt chính cho Mỹ, hiện đang được chính ngành công nghiệp thép Brazil tiêu thụ. Do đó, các nhà máy thép Mỹ buộc phải tìm nguồn cung phôi dẹt từ những điểm đến xa hơn, như Đông Nam Á, điều này đã làm trì trệ khả năng vận hành các dây chuyền cán của các nhà máy trong lúc họ phải chờ đợi lâu hơn để nhận các lô hàng phôi dẹt giao đến.

Nhập khẩu phôi thép và phôi dẹt của Thổ Nhĩ Kỳ phân kỳ trong tháng 7

Dữ liệu từ Global Trade Tracker (GTT) cho thấy lượng nhập khẩu phôi thép của Thổ Nhĩ Kỳ giảm trong tháng 7 nhưng tăng trong bảy tháng đầu năm, trong khi lượng nhập khẩu phôi dẹt tăng trong tháng 7 nhưng lại giảm trong giai đoạn bảy tháng đầu năm.

Xu hướng phân kỳ này bắt nguồn từ nhu cầu liên tục của các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ trong việc cân bằng chi phí sản xuất cao với mức giá sản phẩm và nhu cầu tương đối thấp tại các thị trường nội địa và xuất khẩu. Việc thắt chặt các chính sách và quy định của các quốc gia nhập khẩu, chẳng hạn như quy tắc nấu chảy và đổ khuôn (melt-and-pour), đã làm trầm trọng thêm tình trạng thắt chặt này.

Cước vận tải tăng cao, do cuộc chiến tại Trung Đông đẩy giá dầu và nhiên liệu đốt lò lên cao, cũng kìm hãm nhu cầu của các nhà nhập khẩu Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhập khẩu phôi thép giảm 14,9% theo năm và 24% theo tháng trong tháng 7 xuống còn 370.790 tấn, nhưng lượng hàng cập bến trong bảy tháng đầu năm vẫn tăng 20,5% theo năm lên 3 triệu tấn, dẫn đầu bởi sự gia tăng liên tục trong lượng nhập khẩu phôi thép từ Nga và Trung Quốc. Dữ liệu GTT cho thấy các lô hàng phôi thép tính từ đầu năm đến nay của Nga đã tăng 63,3% theo năm lên 0,9 triệu tấn, và của Trung Quốc tăng 90,2% lên 0,7 triệu tấn.

Các sản phẩm sắt thép của Nga — từ kim loại nguyên sinh cho đến các sản phẩm thành phẩm — là mặt hàng nhập khẩu chủ lực đối với các nhà sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ, và phôi thép cùng phôi dẹt luôn giúp các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ bỏ qua chi phí cao ở giai đoạn thượng nguồn của chu trình sản xuất, hoặc thay thế hoàn toàn đối với các nhà máy không có cơ sở sản xuất thép thô. Kể từ khi cuộc chiến Nga - Ukraine bùng nổ, tính sẵn có của các sản phẩm Nga trở nên cao hơn tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi chỉ một phần nhỏ các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ tránh sử dụng nguyên liệu Nga. Ngoài các biện pháp trừng phạt, EU đang thực thi các quy tắc nấu chảy và đổ khuôn đối với các sản phẩm nhập khẩu, yêu cầu các nhà cung cấp phải cung cấp chứng nhận thử nghiệm nhà máy để chứng minh nguồn gốc sản phẩm. Điều này đặc biệt quan trọng đối với xuất khẩu sản phẩm dẹt của Thổ Nhĩ Kỳ, vì chúng có quy mô lớn hơn các sản phẩm dài.

Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ đã phản ứng bằng cách gia tăng sản lượng phôi dẹt nội địa, điều này phản ánh qua lượng nhập khẩu vật liệu này giảm cho đến nay trong năm nay. Thật vậy, trong bảy tháng đầu năm 2026, Thổ Nhĩ Kỳ đã sản xuất 23,2 triệu tấn thép thô, tăng 8% theo năm, với sản lượng phôi dẹt tăng 20% lên 9,4 triệu tấn, nhưng sản lượng phôi thép chỉ tăng 1% lên 13,8 triệu tấn. Nhập khẩu phôi dẹt giảm 24,1% xuống còn 1,73 triệu tấn trong bảy tháng đầu năm, mặc dù chúng thực sự đã tăng 7,5% theo năm và tăng hơn gấp đôi theo tháng lên 315.233 tấn vào tháng 7. Nhập khẩu phôi dẹt từ Nga tăng 68,5% trong tháng 7 lên 169.815 tấn, trong đó Trung Quốc và Malaysia là nhà cung cấp lớn thứ hai và thứ ba trong tháng 7, lần lượt vận chuyển 96.637 tấn và 48.780 tấn. Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập khẩu phôi dẹt Trung Quốc trong tháng 7 lần đầu tiên kể từ tháng 8 năm 2025. Có khả năng sẽ có nhiều nguyên liệu hơn từ Trung Quốc và ít hơn từ Nga đến Thổ Nhĩ Kỳ trong vài tháng tới, khi các nhà cung cấp Nga chật vật chuyển hướng các chuyến hàng từ các cảng phía nam bị phong tỏa của Nga tại Novorossiysk và Tuapse sang các cảng phía bắc và vùng Viễn Đông.

Những động thái này không chỉ làm tăng giá cả mà còn gây ra tình trạng chậm trễ. Sự phong tỏa, do các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của lực lượng Ukraine và Nga gây ra, đang gây ra sự chậm trễ nghiêm trọng trong việc giao hàng lên tới 0,5 triệu tấn/tháng các sản phẩm sắt thép cho Thổ Nhĩ Kỳ, buộc người mua phải tăng cường mua phế liệu sắt thép và quay trở lại với các nhà cung cấp bán thành phẩm Châu Á, qua đó đẩy giá lên cao ở mọi nguồn gốc xuất xứ.

Sản lượng thép thô của Trung Quốc giảm trong tháng 8

Sản lượng thép thô của Trung Quốc đã giảm 3,7% theo năm xuống còn 74,61 triệu tấn trong tháng 8, do chi phí nguyên liệu thô tăng cao làm bóp nghẹt biên lợi nhuận của các nhà máy thép và làm suy yếu động lực sản xuất.

Dữ liệu do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố ngày 15 tháng 9 cho thấy sản lượng thép thô giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 8 giảm 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 651,85 triệu tấn. Sản lượng tháng 8 cũng thấp hơn 3% so với mức 76,93 triệu tấn của tháng 7.

Giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 8 thường là thời điểm chững lại theo mùa đối với tiêu thụ thép nội địa, do nhiệt độ cao và lượng mưa làm chậm hoạt động xây dựng. Nhu cầu thép xây dựng vẫn yếu hơn so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 8 do đầu tư bất động sản tiếp tục sụt giảm. Dữ liệu từ NBS cho thấy đầu tư bất động sản giảm 20% theo năm trong giai đoạn tháng 1 - tháng 8.

Chi phí nguyên liệu thô tăng ngay cả khi nhu cầu thép suy yếu. Vào ngày 31 tháng 8, Argus đánh giá giá nội địa than cốc luyện kim loại chất lượng cao độ bay hơi thấp giao tại miền bắc Trung Quốc ở mức 2.550 nhân dân tệ/tấn (380 đô la Mỹ/tấn), tăng 540 nhân dân tệ/tấn (tương đương 27%) so với ngày 31 tháng 7, được hỗ trợ bởi nguồn cung thắt chặt do một vụ tai nạn mỏ tại Sơn Tây. Giá thép cây xuất xưởng tại Thượng Hải đã tăng 130 nhân dân tệ/tấn (tương đương 4,4%) lên 3.110 nhân dân tệ/tấn trong cùng kỳ. Mức tăng của giá thép chậm hơn mức tăng của chi phí nguyên liệu thô, làm giảm khả năng sinh lời của nhà máy xuống còn 30% vào cuối tháng 8 so với mức 34% vào cuối tháng 7, theo các thành viên thị trường. Các nhà tham gia thị trường ước tính các khoản lỗ của các nhà máy Trung Quốc đã nới rộng lên mức 100-150 nhân dân tệ/tấn tính đến ngày 31 tháng 8.

Khoản lỗ của các nhà máy Trung Quốc càng sâu hơn vào đầu tháng 9 khi giá thép ổn định trong khi giá than cốc và cốc tiếp tục tăng. Các thành viên thị trường cho biết khả năng sinh lời của nhà máy đã giảm xuống dưới 10% tính đến ngày 11 tháng 9. Mặc dù tháng 9 thường là mùa cao điểm tiêu thụ thép, các nhà máy có thể tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm sản lượng do thua lỗ gia tăng và nguồn cung nguyên liệu thô thắt chặt.

Sản lượng sắt thép Trung Quốc (nghìn tấn)

Tiêu chí

Tháng 8/26

Thay đổi y-o-y ± %

Tháng 1-8/26

Thay đổi y-o-y ± %

Sản lượng thép thô

74.610

-3,7

651.850

-3,1

Tổng sản lượng thép

114.750

-5,5

950.750

-1,7

Sản lượng gang

67.650

-3,5

563.400

-3,1

Sản lượng cốc luyện kim

39.920

-6,2

334.100

0,3

Nguồn: NBS

Nucor đã nâng giá thép cuộn cán nóng lên 1.200 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn

Mức giá trung bình của HRC tại Mỹ trong mười ngày đầu tháng 9 là 1.225 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn.

Nhà sản xuất thép Mỹ Nucor lại một lần nữa nâng giá giao ngay (CSP) đối với thép cuộn cán nóng (HRC). Giá đã tăng 10 đô la Mỹ so với tuần trước và hiện đứng ở mức 1.200 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn.

Giá CSP cho liên doanh California Steel Industries (CSI) cũng tăng 10 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn — lên mức 1.260 đô la Mỹ/tấn.

Nucor liên tục tăng giá thép cuộn cán nóng trong vài tuần qua; trong tháng 8, mức tăng là 5–10 đô la Mỹ/tấn.

Theo nhà sản xuất thép, thời gian giao hàng vẫn không thay đổi — trong khoảng từ ba đến năm tuần.

Mức giá trung bình của thép cuộn cán nóng tại Mỹ tính đến ngày 8 tháng 9 đứng ở mức 1.225 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn (tăng 20 đô la Mỹ so với tuần trước).

Mức giá hiện tại cao hơn đáng kể so với các số liệu của năm ngoái. Trong cùng kỳ năm 2025, giá giao ngay cho khách hàng của Nucor đứng ở mức 875 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn, trong khi các báo giá thị trường của Kallanish đối với HRC tại Mỹ dao động từ 825 đến 865 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn.

Nhìn chung, vào đầu tháng 9, thị trường thép dẹt nội địa Mỹ đang phải đối mặt với tính sẵn có hạn chế của cả nguyên liệu giao ngay lẫn các sản phẩm theo hợp đồng — người mua tiếp tục báo cáo những khó khăn này.

Ngoài ra, các nhà sản xuất sản phẩm thép dài đang tìm cách nâng giá đối với thép thanh thương mại (merchant bar - MBQ). Cụ thể, Nucor và Gerdau đã công bố mức tăng giá 30–50 đô la Mỹ mỗi tấn ngắn, tùy thuộc vào loại sản phẩm.

Cần lưu ý rằng ArcelorMittal đã tăng giá HRC tại Châu Âu thêm 20 euro/tấn (23 đô la Mỹ/tấn) đối với các lô hàng giao vào tháng 11 năm 2026. Điều này là do chi phí nguyên liệu thô và năng lượng tăng cao.

Giá giao ngay HRC tại thị trường Đài Loan đang nhích lên

Mặc dù giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại thị trường Trung Quốc đã suy giảm, giá tại thị trường Châu Á vẫn duy trì ổn định. Giá giao ngay đối với HRC tại Đài Loan đang tăng dần, với việc thị trường đang theo dõi sát sao thông báo giá mới trong tuần này từ hãng POSCO của Hàn Quốc.

Tuy nhiên, do chi phí sản xuất liên tục ở mức cao, các nhà máy thép Trung Quốc có tính linh hoạt hạn chế trong việc định giá, và hầu hết đều không sẵn lòng hạ giá để chốt đơn hàng, vì làm như vậy sẽ dẫn đến thua lỗ.

Được biết, tình hình leo thang tại Trung Đông đã làm giảm sút nhu cầu thị trường, khiến một số người mua phải trì hoãn các giao dịch mua mới, và chỉ những người có nhu cầu bổ sung hàng tồn kho khẩn cấp mới mua dựa trên yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, các nhà máy thép Ấn Độ phần lớn tiếp tục tạm ngừng báo giá cho thị trường Châu Á, chủ yếu là vì nhu cầu nội địa mạnh mẽ và các giá chào cho khu vực Trung Đông và Châu Âu có mức giá cao hơn so với ở Châu Á.

Chung Hung Steel của Đài Loan tăng giá nội địa tháng 10 đối với các sản phẩm thép cán nóng, cán nguội và mạ kẽm

Công ty Cổ phần Thép Chung Hung (CHSC), một nhà sản xuất thép carbon có trụ sở tại Đài Loan thuộc Tổng công ty Thép Trung Quốc (CSC), đã công bố các điều chỉnh giá nội địa cho tháng 10 năm 2026, tăng các sản phẩm cán nóng và cán nguội thêm 600 Đài tệ mỗi tấn và các sản phẩm mạ kẽm thêm 800 Đài tệ mỗi tấn, đưa giá cơ sở cán nóng lên khoảng 27.000 Đài tệ. Giá xuất khẩu cho tháng 10 sẽ được điều chỉnh theo sản phẩm và khu vực, tùy thuộc vào điều kiện thị trường nội địa.

Công ty cho biết tăng trưởng kinh tế toàn cầu được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo ở mức 3,0%, với S&P Global báo cáo chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất trong tháng 8 đã mở rộng lên mức 52,3.

Sản lượng thép thô hàng ngày của doanh nghiệp thép lớn Trung Quốc đã giảm 4,0% xuống còn 1,885 triệu tấn, với lượng hàng tồn kho giảm 11,4%, phản ánh kỷ luật cung ứng. Trong khi đó, than cốc luyện kim nguyên sinh của Úc đã vượt mức 280 đô la Mỹ mỗi tấn, và giá kẽm trên Sàn Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) đã vượt mức 4.000 đô la Mỹ, chạm mức cao nhất trong bốn năm.

Tung Ho Steel của Đài Loan giữ nguyên giá dầm H và tạm ngưng tiếp nhận phế liệu thép cụ thể tại nhà máy Đào Viên

Tung Ho Steel, một nhà sản xuất thép xây dựng tại Đài Loan, đã thông báo cho khách hàng rằng giá cơ sở dầm H vẫn không đổi trong nửa giữa tháng 9, tiếp tục duy trì lập trường định giá đi ngang từ ngày 29 tháng 6.

Bên cạnh đó, công ty thông báo rằng Nhà máy Đào Viên của họ sẽ tạm thời ngừng tiếp nhận phế liệu thép mác đặc biệt bắt đầu từ ngày 16 tháng 9 do các điều chỉnh về lưu trữ hàng tồn kho. Ngày nối lại việc tiếp nhận loại vật liệu này sẽ được thông báo sau.