Trên thị trường năng lượng, giá dầu biến động thất thường giữa bối cảnh số ca mắc COVID-19 ngày càng tăng gây lo ngại về triển vọng nhu cầu dầu toàn cầu.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng nhẹ 3 US cent (0,05%) lên 55,91 USD/thùng, trong khi giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 16 US cent (0,3%) xuống 52,61 USD/thùng.
Đà giảm của giá dầu Mỹ đã chậm lại, trong khi dầu Brent tăng nhẹ sau số liệu từ Viện Xăng dầu Mỹ cho thấy lượng dầu thô tại các kho dự trữ của nước này đã giảm khoảng 5,3 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 22/1, xuống khoảng 481,8 triệu thùng, trái ngược với dự báo tăng 430.000 thùng theo kết quả khảo sát của Reuters.
Đồng thời, giá dầu cũng được hỗ trợ bởi tình hình căng thẳng địa chính trị sau khi hai tàu chở dầu siêu lớn, có các thành viên thủy thù đoàn từ Iran và Trung Quốc, bị bắt giữ ngày 24/1 tại vùng biển Indonesia gần đảo Kalimantan vì bị nghi ngờ vận chuyển dầu trái phép.
Trung Quốc thông số ca mắc COVID-19 mới đang gia tăng, gây lo ngại về triển vọng nhu cầu ở nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu thế giới này. Trong một diễn biến khác, nhập khẩu dầu thô của Ấn Độ trong tháng 12/2020 đã tăng lên mức cao nhất trong hơn hai năm.
Về triển vọng nhu cầu dầu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự đoán tăng trưởng toàn cầu năm 2021 là 5,5%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với dự báo tháng 10, nhờ kỳ vọng vào việc triển khai tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19, qua đó giúp triển vọng nhu cầu dầu nhích cao hơn vào cuối năm nay.
Giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng 2% lên mức cao mới 1 tuần, do dự báo thời tiết lạnh hơn và nhu cầu sưởi ấm đến giữa tháng 2/2021 cao hơn so với dự báo trước đó. Khí tự nhiên kỳ hạn tháng 2/2021 trên sàn New York tăng 5,4 US cent tương đương 2,1% lên 2,656 USD/mmBTU – cao nhất kể từ ngày 15/1/2021 – phiên thứ 2 liên tiếp. Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 3/2021 tăng 4 US cent lên 2,63 USD/mmBTU.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do những lo ngại về sự chậm trệ của gói cứu trợ COVID-19 mới và đồng USD yếu đi, cùng với các nhà đầu tư đang theo dõi sát sao cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.851,26 USD/ounce; vàng kỳ hạn giảm 0,2% xuống 1.850,90 USD/ounce.
Chiến lược gia Bart Melek của TD Securities nhận định rằng việc không có dấu hiệu rõ ràng về việc gói cứu trợ COVID-19 sẽ đi về đâu và phản ứng của Fed ra sao đã làm hạn chế sức hấp dẫn của vàng.
Đề xuất về gói cứu trợ COVID-19 trị giá 1.900 tỷ USD của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden gặp phải trở ngại khi các nghị sỹ của đảng Cộng hòa tỏ ý quan ngại về đề xuất này và đang vận động hành lang cho một kế hoạch có quy mô nhỏ hơn nhắm mục tiêu phân phối vaccine ngừa COVID-19.
Tuy nhiên, đồng USD rời khỏi mức cao của một tuần đã giúp vàng hấp dẫn hơn cho những người mua nắm giữ đồng tiền khác.
Hiện giới đầu tư đang hướng sự chú ý đến thông báo chính sách của Fed, dự kiến công bố vào cuối cuộc họp chính sách hai ngày vào hôm 27/1.
Trong một thông tin khác, nhập khẩu vàng ròng của Trung Quốc thông qua Khu hành chính đặc biệt Hong Kong (Trung Quốc) trong tháng 12/2020 đã tăng tháng thứ hai liên tiếp, dù nhập khẩu trong cả năm giảm khoảng 85% do dịch COVID-19 tác động đến nhu cầu vàng nước này.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,6% lên 25,46 USD/ounce, bạch kim giao ngay nhích 0,1% lên 1.099,74 USD/ounce, trong khi palađi giảm 0,6% xuống 2.319,75 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng do đồng USD suy yếu khiến kim loại trở nên rẻ hơn đối với khách hàng ngoài Mỹ, song tiến triển các biện pháp kích thích kinh tế của Mỹ chậm lại và lo ngại về nhu cầu của Trung Quốc đã hạn chế đà tăng.
Giá đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,3% lên 7.990,5 USD/tấn. Giá đồng luôn giao động quanh mức 8.000 USD/tấn kể từ khi giảm từ mức cao (8.238 USD/tấn) trong ngày 8/1/2021.
Nhà phân tích Daniel Briesemann thuộc Commerzbank cho biết, nhu cầu của Trung Quốc trong năm 2021 sẽ giảm do nhập khẩu đồng trong năm 2020 nhiều hơn so với mức cần thiết và dự báo giá đồng sẽ dao động khoảng 7.000-7.500 USD/tấn vào cuối năm nay.
Giá thiếc trên sàn London tăng 1,7% lên 22.840 USD/tấn, sau khi đạt 22.900 USD/tấn – cao nhất kể từ năm 2014. Giá thiếc tăng tuần thứ 13 liên tiếp do tồn trữ tại London chạm gần mức thấp kỷ lục.
Giá thép không gỉ tại Thượng Hải tăng 3%, tăng phiên thứ 2 liên tiếp được thúc đẩy bởi giá nguyên liệu thô tăng và kỳ vọng nhu cầu tăng mạnh sau khi Trung Quốc nghỉ Tết năm mới vào tháng tới.
Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên giảm 1,5% xuống 1.026 CNY/tấn; quặng sắt 62% giao ngay vào Trung Quốc không thay đổi ở mức 171,5 USD/tấn, công ty tư vấn SteelHome cho biết.
Giá thép không gỉ kỳ hạn tháng 4/2021 trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% lên 14.500 CNY (2.239,73 USD)/tấn, trong đầu phiên giao dịch giá thép không gỉ tăng 3% lên 14.705 CNY/tấn. Giá thép cây và thép cuộn cán nóng sử dụng trong lĩnh vực sản xuất cũng tăng. Trên sàn Thượng Hải, giá thép cây kỳ hạn tháng 5/2021 tăng 0,1% lên 4.303 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng tăng 1,4% lên 4.428 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá ngô Mỹ tăng 4% do thông tin về doanh số xuất khẩu mới sang Trung Quốc, làm dấy lên mối lo ngại về nguồn cung ngô Mỹ và toàn cầu thắt chặt.
Trên sàn Chicago, giá ngô kỳ hạn tháng 3/2021 tăng 20-1/2 US cent lên 5,32 USD/bushel. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 3/2021 tăng 29 US cent lên 13,72-1/2 USD/bushel và giá lúa mì giao cùng kỳ hạn tăng 17-1/4 US cent lên 6,65-3/4 USD/bushel.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2021 trên sàn ICE duy trì ổn định, trước đó trong phiên giá đường thô chạm 15,62 US cent/lb – thấp nhất kể từ ngày 13/1/2021; đường trắng giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 1 USD xuống 444,2 USD/tấn.
Giá dầu cọ tại Malaysia chấm dứt chuỗi giảm 2 phiên liên tiếp tăng 0,7%, theo xu hướng các loại dầu thực vật khác tại Trung Quốc và Mỹ tăng, song xuất khẩu suy yếu đã hạn chế đà tăng.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 4/2021 trên sàn Bursa (Malaysia) tăng 23 ringgit tương đương 0,7% lên 3.265 ringgit (806,77 USD)/tấn. Trong đầu phiên giao dịch giá dầu cọ tăng 1,5%, song đà tăng bị hạn chế do xuất khẩu suy yếu.
Giá cà phê cũng được hỗ trợ bởi thời tiết khô ở một số khu vực trồng trọng điểm của Brazil. Cà phê Arabica tăng do đồng real Brazil hồi phục sau khi giảm mạnh trong tuần trước đó.
Giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 3/2021 trên sàn ICE tăng 1,25 US cent tương đương 1% lên 1,245 USD/lb; robusta kỳ hạn tháng 3/2021 trên sàn London tăng 8 USD tương đương 0,6% lên 1.317 USD/tấn.
Giá cao su tại Nhật Bản giảm xuống mức thấp nhất 3 tuần, theo xu hướng giá cao su tại Thượng Hải giảm, giữa bối cảnh số ca nhiễm COVID -19 trên toàn cầu tăng làm dấy lên mối lo ngại về sự phục hồi nền kinh tế.
Giá cao su kỳ hạn tháng 7/2021 trên sàn Osaka giảm 7,4 JPY tương đương 3,2% xuống 224,1 JPY (2,2 USD)/kg – thấp nhất kể từ ngày 4/1/2020, giảm từ mức 231,5 JPY/kg trong đầu phiên giao dịch; cao su kỳ hạn tháng 5/2021 trên sàn Thượng Hải giảm 255 CNY xuống 14.060 CNY (2.173 USD)/tấn.
Giá hàng hóa thế giới sáng 27/1/2020
 

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,79

+0,18

+0,34%

Dầu Brent

USD/thùng

56,07

+0,16

+0,29%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.110,00

+220,00

+0,63%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,65

-0,01

-0,23%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

157,75

-0,32

-0,20%

Dầu đốt

US cent/gallon

160,05

+0,21

+0,13%

Dầu khí

USD/tấn

452,75

+1,75

+0,39%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.360,00

+590,00

+1,21%

Vàng New York

USD/ounce

1.849,20

-5,60

-0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

6.172,00

-24,00

-0,39%

Bạc New York

USD/ounce

25.37

-0.11

-0.45%

Bạc TOCOM

JPY/g

85.40

0.00

0.00%

Bạch kim

USD/ounce

1.095,63

-7,05

-0,64%

Palađi

USD/ounce

2.326,38

-2,37

-0,10%

Đồng New York

US cent/lb

362,05

+0,10

+0,03%

Đồng LME

USD/tấn

8.008,50

+39,50

+0,50%

Nhôm LME

USD/tấn

2.020,00

+8,00

+0,40%

Kẽm LME

USD/tấn

2.656,50

-49,00

-1,81%

Thiếc LME

USD/tấn

22.850,00

+400,00

+1,78%

Ngô

US cent/bushel

537,00

+4,75

+0,89%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

669,25

+4,00

+0,60%

Lúa mạch

US cent/bushel

357,50

+2,75

+0,78%

Gạo thô

USD/cwt

13,28

-0,02

-0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

1.381,25

+11,00

+0,80%

Khô đậu tương

USD/tấn

438,80

+2,30

+0,53%

Dầu đậu tương

US cent/lb

44,33

+0,42

+0,96%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

558,00

+4,70

+0,85%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.545,00

+37,00

+1,48%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

124,50

+1,25

+1,01%

Đường thô

US cent/lb

15,74

0,00

0,00%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

116,20

+1,75

+1,53%

Bông

US cent/lb

81,71

-0,62

-0,75%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

855,10

+32,00

+3,89%

Cao su TOCOM

JPY/kg

158,50

+0,80

+0,51%

Ethanol CME

USD/gallon

1,66

+0,03

+1,53%

 

 
 

Nguồn tin: Vinanet