Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng sau khi lệnh trừng phạt của Mỹ áp lên hàng hóa Iran có hiệu lực, làm gia tăng lo ngại rằng các lệnh trừng phạt nhằm vào dầu thô của nước này (dự kiến vào tháng 11 tới) có thể gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc tăng 90 US cent (1,2%) lên 74,65 USD/thùng, trong phiên có lúc giá chạm 74,90 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 16 US cent (0,2%) lên 69,17 USD/thùng, sau khi có lúc đạt mức cao 69,83 USD/thùng trước đó.
Mỹ tái áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran từ ngày 7/8. Tuy nhiên, các lệnh trừng phạt này chưa được áp đặt đối với xuất khẩu dầu từ nước này (Iran đã xuất khẩu gần 3 triệu thùng dầu thô/ngày trong tháng 7/2018), mà nhằm vào các giao dịch mua USD, vàng và các kim loại quý, cùng một số ngành công nghiệp chủ chốt như than, nhôm, thép và phần mềm sử dụng trong công nghiệp của Iran. Lĩnh vực năng lượng của Tehran dự kiến sẽ là mục tiêu tiếp theo bị Mỹ trừng phạt sau thời hạn 180 ngày ( kết thúc vào ngày 4/11). Nhiều quốc gia châu Âu, Trung Quốc và Ấn Độ đã phản đối các lệnh trừng phạt mà Mỹ áp lên Iran, song Washington kiên quyết mốn nhiều nước phải ngừng mua dầu Iran.
Cùng với những căng thẳng địa chính trị có thể tác động đến sản lượng dầu thô Iran, các nhà giao dịch cũng đang theo dõi sát lượng dầu dự trữ của Mỹ - theo dự báo giảm 3,3 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 3/8/2018.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (IEA), sản lượng dầu thô của nước này, vốn tăng đột biến nhờ sản lượng dầu khí đá phiến, có thể tăng chậm lại do giá giảm. Sản lượng dự kiến chỉ tăng 1,31 triệu thùng/ngày lên 10,68 triệu thùng/ngày trong năm 2018, thấp hơn so với dự báo tăng 1,44 triệu thùng/ngày lên 10,79 triệu thùng/ngày đưa ra hồi tháng trước. Linda Capuano, người đứng đầu EIA, dự báo giá dầu Brent giao ngay có thể sẽ giảm xuống 70 USD/thùng vào cuối năm 2018 khi thị trường tương đối cân bằng trong vài tháng tới.
Trên thị trường kim loại quý, giá đồng loạt tăng do USD giảm so với nhân dân tệ (CNY). Giá vàng giao ngay tăng 0,3%, lên 1.210,06 USD/ounce; vàng giao tháng 12/2018 cũng tăng 60 US cent (0,1%), lên 1.218,30 USD/ounce.
Chiến lược gia hàng hóa thuộc ABN Amro, Georgette Boele cho biết: “Ở thời điểm hiện tại, giá vàng chịu tác động bởi CNY hơn là chỉ số Dollar index. Đồng USD mặc dù tăng so với một số đồng tiền khác nhưng lại không tăng so với CNY”, và giải thích thêm rằng chứng khoán Trung Quốc tăng điểm mạnh nhất trong vòng hơn 2 năm (do các nhà đầu tư kỳ vọng vào chương trình chi tiêu mới của Chính phủ và bởi căng thẳng thương mại có dấu hiệu dịu bớt) trong khi USD giảm so với CNY khiến cho vàng trở nên rẻ hơn so với những nhà đầu tư bên ngoài nước Mỹ.
Chứng khoán toàn cầu cũng khởi sắc trong phiên này nhờ đà đi lên tại thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng như nhóm cổ phiếu dầu mỏ và khai khoáng tại châu Âu sau khi Mỹ chính thức tái áp đặt các lệnh trừng phạt đối với Iran.
Giới đầu tư hy vọng nhu cầu vàng của Iran sẽ tăng trong thời gian tới khi nước này sử dụng vàng để thực hiện các giao dịch trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, xu hướng đồng USD mạnh lên và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nâng lãi suất có thể sẽ chặn đứng hy vọng này.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,7%, lên 15,37 USD/ounce, giá palađi tăng 0,3%, lên 906,55 USD/ounce, còn giá bạch kim tăng 0,6%, lên 825,74 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá cũng tăng khi các nhà đầu tư kỳ vọng kinh tế Trung Quốc sẽ tăng tốc nhờ những biện pháp kích thích kinh tế trong bối cảnh đồng nội tệ ổn định.
Kẽm kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1,3% lên 2.600 USD/tấn; đồng cùng kỳ hạn cũng tăng 0,7% lên 6.175 USD/tấn; nickel tăng 1,2% lên 13.850 USD/tấn, chì tăng 1,6% lên 2.149 USD/tấn và thiếc tăng 0,3% lên 19.575USD/tấn.
Ngành đường sắt Trung Quốc vừa thông báo năm 2018 sẽ đẩy mạnh đầu tư vào tài sản cố định trong ngành lên 800 tỷ CNY (117 tỷ USD), cao hơn 9,3% so với kế hoạch ban đầu. Tuần trước, Chính phủ nước này đã rất cố gắng ngăn nội tệ trượt giá. “Việc Chính phủ Trung Quốc tiếp tục kích thích kinh tế là tín hiệu tốt, nhưng điều quan trọng hơn là đồng CNY đã tăng trở lại so với USD – yếu tố sẽ thúc đẩy nhiều người mua kim loại”, ông Gianclaudio Torlizzi, đối tác của công ty tư vấn T-Commodity ở Milan cho biết.
Giá thép tại Trung Quốc tiếp tục tăng lên mức cao nhất hơn 6 năm do lo ngại nguồn cung thắt chặt vì thiếu điện và kế hoạch hạn chế sản xuất trong mùa Đông. Thép cây kỳ hạn tháng 10 trên sàn Thượng Hải cuối phiên tăng 1,6% lên 4.237 CNY/tấn, trong phiên có lúc đạt 4,266 CNY (624,2 USD)/tấn, cao nhất kể từ tháng 4/2012.
Tình trạng thiếu điện đã ảnh hưởng tới khoảng 30% công suất sản xuất, nhiều nhà máy thép hiện chỉ được phép hoạt động vào giờ thấp điểm. Một số nhà máy tại Hà Bắc - tỉnh sản xuất thép lớn nhất của Trung Quốc - đã nhận chỉ thị cắt giảm sản lượng vì thiếu điện.
Quặng sắt tăng phiên thứ 3 liên tiếp, thêm 0,8% lên 503,5 CNY/tấn. Thị trường này dự đoán các mỏ trên toàn quốc sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ hơn sau khi 4 công nhân bị thiệt mạng trong vụ nổ ở một mỏ than nhỏ tại miền Nam Trung Quốc, và điều đó có thể dẫn tới tình trạng khan hiếm nguồn cung.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê tăng phiên thứ 3 liên tiếp do mưa sớm tại nước sản xuất hàng đầu – Brazil – gia tăng lo ngại sản lượng vụ thu hoạch tới suy giảm, trong khi ca cao và đường giảm trở lại. Cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2018 tăng 0,3 US cent tương đương 0,3% lên 1,0905 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn giảm 14 USD, tương đương 0,8% xuống còn 1.658 USD/tấn. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) nâng dự báo tiêu thụ cà phê toàn cầu năm 2017/18 lên 161,23 triệu bao (60 kg), tăng so với 159,92 triệu bao dự báo trước đó.
Đường thô kỳ hạn tháng 10/2018 giảm 0,1 US cent tương đương 0,9% xuống còn 10,88 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 4,3 USD tương đương 1,3% xuống còn 323 USD/tấn.
Cacao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn New York giảm 30 USD tương đương 1,4% xuống còn 2.140 USD/tấn, ca cao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 25 GBP, tương đương 1,5% xuống còn 1.600 GBP/tấn.
Giá đậu tương tăng do diễn biến thời tiết bất thường tại Mỹ gây lo ngại sản lượng giảm. Đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn Chicago tăng 12-1/4 cent tương đương 1,4% lên 9,05-3/4 USD/bushel. Giá lúa mì giảm từ mức cao kỷ lục 3 năm của phiên trước đó. Lý do bởi nhu cầu lúa mì Mỹ chậm lại, mặc dù dự kiến nhiều nước sản xuất lúa mì lớn năm nay bị mất mùa. Lúa mì đỏ mềm vụ Đông kỳ hạn giao tháng 9/2018 trên sàn Chicago giảm 6-1/4 US cent xuống còn 5,68-1/4 USD/bushel, trong lúa mì đỏ cứng vụ Đông giao cùng kỳ hạn giảm 6-1/2 US cent, xuống còn 5,79-1/2 USD/bushel.
Giá cao su tại Tokyo tăng theo xu hướng giá dầu thế giới và cao su tại Thượng Hải. Hợp đồng giao tháng 1/2019 trên sàn Tokyo kết thúc phiên tăng 0,9 JPY lên 171,4 JPY (1,54 USD)/kg, trong phiên có lúc đạt 172,2 JPY/kg, cao nhất kể từ ngày 20/7/2018; hợp đồng giao cùng kỳ hạn tại Thượng Hải tăng 415 CNY lên 12.515 CNY (1.834 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 12.565 CNY/tấn, cao nhất kể từ ngày 20/3.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

69,22

+0,05

+0,07%

Dầu Brent

USD/thùng

74,60

-0,05

-0,07%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

50.000,00

+370,00

+0,75%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,89

-0,01

-0,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

209,30

-1,10

-0,52%

Dầu đốt

US cent/gallon

216,32

-0,59

-0,27%

Dầu khí

USD/tấn

662,00

+1,25

+0,19%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.870,00

+380,00

+0,56%

Vàng New York

USD/ounce

1.220,70

+2,40

+0,20%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.333,00

+8,00

+0,18%

Bạc New York

USD/ounce

15,41

+0,04

+0,24%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,00

+0,10

+0,18%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

829,77

+0,32

+0,04%

Palladium giao ngay

USD/ounce

914,13

+4,05

+0,45%

Đồng New York

US cent/lb

275,95

+0,75

+0,27%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.175,00

+42,00

+0,68%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.038,00

-5,00

-0,24%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.600,00

+31,00

+1,21%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.575,00

+50,00

+0,26%

Ngô

US cent/bushel

384,50

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

595,75

+5,75

+0,97%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,75

+3,00

+1,14%

Gạo thô

USD/cwt

10,83

-0,08

-0,73%

Đậu tương

US cent/bushel

902,75

-3,00

-0,33%

Khô đậu tương

USD/tấn

331,70

-0,90

-0,27%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,03

-0,06

-0,21%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

501,00

-1,60

-0,32%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.140,00

-30,00

-1,38%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

109,05

+0,30

+0,28%

Đường thô

US cent/lb

10,88

-0,10

-0,91%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

164,50

-1,90

-1,14%

Bông

US cent/lb

88,18

+0,28

+0,32%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

426,40

+3,70

+0,88%

Cao su TOCOM

JPY/kg

174,00

+2,60

+1,52%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

-0,01

-0,91%

Nguồntin: Vinanet